Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/10/2010 21:07 (GMT+7)

Một số đặc điểm tình hình dân số nước ta hiện nay

Dân số là số lượng dân cư của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định. Đây là điều kiện thường xuyên, tất yếu của đời sống xã hội. Số lượng, chất lượng dân số, mật độ dân cư cũng như cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số, sự phân bố dân cư theo lãnh thổ thường xuyên ảnh hưởng đến nguồn lao động, tổ chức phân công lao động cũng như việc phát triển sản xuất và phát triển mọi mặt đời sống xã hội. Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hòa quan hệ giữa số lượng và chất lượng dân số, giữa phát triển dân số và phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số ở nước ta.

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 4, khóa VII về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ), tình hình dân số ở nước ta đã có những thay đổi rất căn bản. Mục tiêu giảm sinh và thực hiện "mỗi cặp vợ chong có hai con" đã đạt được. Các số liệu điều tra dân số cho thấy tỷ lệ tăng dân số nước ta sau 5 thập kỷ đã giảm hơn 1/3 từ 3,9% năm 1960 xuống còn 1,2% năm 2009. Giai đoạn 10 năm (từ năm 2000 đến năm 2009) là những năm tỷ lệ tăng dân số đạt thấp nhất trong vòng 50 năm qua. Hiện nay nước ta đã đạt mức sinh thay thế. Thành công này đã góp phần giảm bớt sức ép về sự tăng dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, an sinh xã hội, tạo cơ hội cho người dân tiếp cận thuận tiện và hiệu quả hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội khác. Những thành tựu quan trọng trong công tác dân số của Việt Nam đã được tổ chức Liên hiệp quốc đánh giá rất cao. Năm 1999, Liên hiệp quốc đã trao tặng giải thưởng dân số cho Việt Nam . Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, những thành tựu đó mới chỉ lâ bước đầu và chưa bền vững. Thực trạng tình hình dân số nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết. Muốn như vậy, phải tiến hành tìm hiểu, phân tích, đánh giá đặc điểm tình hình dân số nước ta hiện nay. Nghiên cứu kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở tiến hành vào ngày 01 - 04 - 2009 bước dầu cho phép chúng ta chỉ ra một số đặc điểm của tình hình dân số ở nước ta hiện nay như sau:

Một là, quy mô dân số nước ta rất lớn, mật độ dân số cao so với khu vực và thế giới:

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở được tiến hành vào ngày 01 - 04 - 2009, đến 0 giờ ngày 01 - 04 - 2009 quy mô dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tỷ lệ giới tính: 98,1 nam/100 nữ. Nam chiếm 49,5%, nữ chiếm 50,5% dân số. Sau 10 năm (tính từ 01 - 04 - 1999 đến 0l - 04 - 2009) dân số nước ta tăng thêm 9,5 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 950.000 người, tương đương với dân số của một tỉnh trung bình. Với quy mô dân số như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonesia và Phihppines) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới.

Cùng với quy mô dân số lớn, mật độ dân số ở nước ta cũng luôn ở mức cao, khoảng 237 người /1 km 2, gấp 1,8 lần mật độ dân số Trung Quốc và gấp 5 lần mật độ dân số trung bình của thế giới.

Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, năm 2024 dân số nước ta sẽ vượt 100 triệu người, mật độ dân số sẽ lên tới 335 người /1km 2.

Quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao và vẫn đang trong xu hướng tăng mạnh như vậy bên cạnh tạo ra thị trường lớn với dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào để xây dựng, phát triển đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài thì cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt là việc giải quyết các vấn đề xã hội như đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em và người cao tuổi.

Hai là, đất nước đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, nhưng đối mặt với xu hướng già hóa trong tương lai gần:

Việt Nam đang bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng, thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc.

Bên cạnh đó, nước ta cũng đang phải đối mặt với xu hướng già hóa dàn số trong tương lai gần. Theo ý kiến của các chuyên gia, quá trình già hóa dân số của Việt Nam sẽ đến nhanh hơn dự kiến. So với cuộc điều tra dân số tiến hành vào 01 - 04 - 1999, nhóm dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33% (năm 1999) xuống còn 25% (năm 2009). Ngược lại, tỷ lệ dân số nhóm 15 - 19 tuổi tăng từ 58% lên 66% và nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% lên 9%. Sau 10 năm, chỉ số già hóa của dân số Việt Nam tăng 11% (từ 24,5% lên 35,9%). Chỉ số già hóa của Việt Nam hiện nay cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%). Tuổi thọ trung bình của người việt Nam tăng 3,7 tuổi so với năm 1999, lên 72,8 tuổi (nam đạt 70,2 tuổi, và nữ - 75,6 tuổi).

Thông thường các nước trên thế giới phải mất nhiều thập kỷ mới chuyển từ giai đoạn cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số trong khi Việt Nam chỉ mất có 3 năm (từ 2005 đến 2008). Như vậy, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có dân số già khi chưa giàu, nghĩa là chưa tích lũy được gì thì đã già.

Theo dự báo, đến năm 2024, cả nước có 12. 811.400 người cao tuổi, chiếm tỷ lệ 13 % trong tổng dân số, vượt tiêu chuẩn xã hội già hóa và đây sẽ là thách thức lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội.

Ba là, cơ cấu giới tính trẻ sơ sinh có biểu hiện mất cân đối nghiêm trọng, số trẻ sinh ra là con thứ ba có xu hướng gia tăng:

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở được tiến hành vào ngày 01 - 04 - 2009 cho thấy tỷ lệ giới tính nói chung ở nước ta vẫn ở mức bình thường. Tuy vậy, tỷ lệ chênh lệch giới tính trẻ sơ sinh lại có những biểu hiện chứa đựng nguy cơ mất cân bầng giới tính nghiêm trọng trong tương lai. Nếu năm 1999 tỷ lệ này là 108 bé trai/100 bé gái thì hiện nay là 111 bé trai/100 bé gái, thậm chí có địa phương chênh lệch tới 131 bé trai /100 bé gái. Những con số trên đây cho thấy tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam có biểu hiện gia tăng một cách bất thường, cho phép chúng ta đặt ra giả thiết đáng tin cậy là một số bậc cha mẹ và các cá nhân, tổ chức y tế đã có sự can thiệp vào sự lựa chọn giới tính để sinh con trai. Nếu tình trạng này vẫn tiếp tục kéo dài thì có thể dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính nghiêm trọng trong tương lai khoảng vài chục năm nữa, một số lượng lớn nam giới Việt Nam đến tuổi lập gia đình không thể tìm được vợ. Từ đây có thể làm nảy sinh nhiều vấn nạn xã hội rất nặng nề như buôn bán phụ nữ, mại dâm, nhập khẩu cô dâu v.v.., ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dân số Việt Nam .

Đáng lưa ý, số trẻ sinh ra là con thứ ba trở lên vẫn có chiều hướng gia tăng. Ước tính, năm 2008, cả nước có tới 142.485 trẻ sinh ra là con thứ ba trở lên. Riêng thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 có 3.123 trẻ là con thứ ba, tăng 8,12% so với cùng kỳ năm 2007. Trong 11 tháng đầu năm 2009 đã có 2.615 trẻ là con thứ ba được sinh ra tại thành phố Hồ Chí Minh.

Thực trạng trên cho thấy vẫn còn nhiều biểu hiện vi phạm các quy định của Pháp lệnh dân số, mục tiêu giảm sinh tuy đã đạt được nhưng chưa bền vững.

Bốn là,dân số nước ta phân bố không đều, cư dân đô thị ngày càng tăng:

Theo kết quả cuộc Tổng điều tra, dân số nước ta phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng: hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Trong khi đó, hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên chỉ chiếm 19% dân số. Số liệu cũng cho thấy Đông Nam bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm. Ở khu vực này, thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ tăng bình quân là 3,5%/năm, Bình Dương tăng 7,3%/năm. Đây cũng là những nơi có tốc độ nhập cư rất lớn.

Mười năm qua đã có sự chuyển dịch ngày càng nhiều người dân nông thôn vào thành thị. Nếu như năm 1999 chỉ có 23,7% dân số sống ở thành thị thì nay con số đó đã gần 30%. Trong giai đoạn 1999 - 2009 dân số khu vực thành thị tăng 7,3 triệu người. Trong khi đồng bằng sông Hồng có mức đô thị hóa thấp hơn với 29,6% dân số thành thị thì Đông Nam Bộ là vùng có mức độ đô thị hóa cao nhất, nhanh nhất với 57,1% dân số sống ở thành thị.

Trong thời gian tới, quá trình công nghiệp hóa và di dân sẽ làm cho đô thị hóa và di dân tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, đô thị sẽ mở rộng và cư dân đô thị sẽ còn gia tăng. Điều này đang đặt ra nhiều thách thức cho việc quy hoạch đô thị, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các thành phố lớn ở nước ta.

Bên cạnh đó, mức sinh, mức chết tuy đã giảm mạnh nhưng vẫn còn chênh lệch giữa các vùng. Mức sinh của Việt Nam tiếp tục giảm trong giai đoạn 1999 - 2009. So với kết quả tổng điều tra vào năm 1999, tỷ suất sinh của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm từ 2,3 con/1 phụ nữ xuống dưới mức sinh thay thế là 2 con/ 1 phụ nữ. Tuy nhiên, vẫn còn khác biệt về mức sinh giữa khu vực thành thị là 1,8 con /1 phụ nữ với khu vực nông thôn là 2,15 con/1 phụ nữ. Kết quả điều tra cho thấy mức tăng dân số tự nhiên cao nhất thuộc về khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Khu vực này cùng với đồng bầng sông Cửa Long là những nơi có số năm đi học trung bình của dân cư thấp nhất, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất. Thực trạng này cho phép đưa ra dự báo là trong tương lai vài chục năm tới, số trẻ em thành thị có điều kiện học hành, dinh dưỡng tốt sẽ đạt một tỷ lệ thấp hơn rất nhiều so với trẻ em nông thôn, miền núi. Điều này cũng sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng dân số nước ta.

Năm là, chất lượng dân số Việt Nam tuy có được cải thiện nhưng vẫn chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước:

Chỉ số phát triển con người (The Human Development Index - HDI) của nước ta không ngừng tăng lên, từ 0,539 năm 1992 đã tăng lên 0,733 năm 2005. Tuy nhiên, so với thế giới, chỉ số HDI của Việt Nam vẫn ở thứ hạng thấp, năm 2009 chỉ đứng thứ 116/182 nước được xếp hạng, thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 28 - 30%. Tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của người Việt Nam đạt 60,2 /72,2 tuổi thọ bình quân; 1,5% dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ, cả nước có 5,3 triệu người bị khuyết tật, chiếm 6,3% dân số Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cao nhất thế giới. Tầm vóc, thể lực, cân nặng, sức bền của người Việt Nam còn hạn chế so với nhiều nước trong khu vực.

Những con số trên cho thấy chất lượng dân số nước ta tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Từ nhận thức vai trò vô cùng quan trọng của yếu tố dân số đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, từ thực trạng tình hình dân số ở nước ta hiện nay, giảm tỷ lệ sinh, tăng chất lượng dân số, bố trí cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với công tác dân số. Để củng cố, phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng thời có được những thành tựu mới trong công tác dân số làm cho dân số trở thành yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, theo ý kiến chúng tôi, nên tập trung giải quyết một số vấn đề như sau:

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật về DS - KHHGD, bảo đảm tổ chức, bộ máy, con người cùng các dịch vụ, phương tiện, kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình có chất lượng cao đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của người dân. Đẩy mạnh công tác truyền thông DS - KHHGD. Xử lí nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định của Pháp lệnh dân số, đặc biệt là các trường hợp sinh con thứ ba, các tổ chức, cá nhân can thiệp nhằm lựa chọn giới tính của thai nhi.

-Tận dụng "cơ cấu dân số vàng" để phát triển kinh tế. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, đa dạng hóa ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Kế hoạch phát triển giáo dục, nhất là bậc tiểu học và trung học cơ sở cần chú ý đến xu thế tỷ lệ trẻ em đang giảm nhanh để có sự điều chỉnh cho phù hợp. Đồng thời, trước xu thế già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, gia đình, Nhà nước và xã hội cần quan tâm hơn nữa đến việc tổ chức cuộc sống, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Một mặt khuyến khích duy trì mô hình gia đình truyền thống để người cao tuổi được con cháu chăm sóc tại gia đình; mặt khác xây dựng, phát triển các dịch vụ, trung tâm dưỡng lão có chất lượng đáp ứng nhu cầu của người dân.

- Thực hiện phân bố dân cư hợp lý giữa các khu vực, các vùng, miền để khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng; xây dựng các khu đô thị vệ tinh, giải tỏa sức ép dân số quá lớn ở đồng bằng sông Hồng và các thành phố lớn. Tránh hình thành các "siêu đô thị" với những thảm họa về môi trường và các vấn đề xã hội bằng cách xây dựng đô thị vừa và nhỏ, tạo điều kiện phân bố dân cư hợp lí. Bên cạnh đó, bản thân các đô thị lớn cũng cần chủ động lường trước xu thế gia tăng nhanh dân số do di cư đề xây dựng các chiến lược phát triển, đặc biệt là quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đô thị và các công trình công cộng nhằm tránh những tổn thất do quy hoạch sai lầm gây nên.

- Đẩy mạnh các biện pháp nâng cao chất lượng dân số như: tăng chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, ưu tiên đầu tư cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân, nâng cao dân trí, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, tăng cường các biện pháp chống tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bỏ học, nâng cao tầm vóc, sức bền, trí lực, thể lực cho người Việt Nam.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo, xây dựn đội ngũ cán bộ làm công tác DS -KHHGĐ từ Trung ương đến địa phương đáp ứng yêu cầu, có chính sách đãi ngộ xứng đáng với những cán bộ làm công tác này ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Thường xuyên tổng kết, rà soát, nghiên cứu về tình hình dân số và công tác DS -KHHGĐ để đưa ra các chính sách kịp thời và phù hợp.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.