Một số biện pháp phòng ngừa bệnh gút
Trong cơ thể, trong điều kiện bình thường, axit uric được tạo ra với số lượng ít do sự chuyển hoá một số liên kết có chứa nitơ - gốc purin (hàm lượng axit uric máu bình thường dao động trong khoảng 0,27-0,45 mmol/lít). Khi quá trình chuyển hoá này bị rối loạn, dẫn đến tăng cường sự tổng hợp axit uric và giảm sự đào thải qua thận. Kết quả là sự lắng đọng của các tinh thể muối của axit uric (urat) trong một ổ khớp hoặc nhiều khớp và bệnh nhân gút sẽ phát triển các cơn đau khớp cấp. Nếu không được chữa trị tốt, các cơn đau gut xuất hiện ngày càng nhiều và kéo dài hơn, xuất hiện đau ở các ổ khớp mới.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh gút và tăng tần suất xuất hiện các cơn gút cấp:
Ăn nhiều thịt động vật, cuộc sống tĩnh tại ít vận động, hút thuốc, uống rượu bia dẫn đến những rối lợn toàn bộ quá trình trao đổi chất, kèm theo đó là sự phát triển của các bệnh như tăng huyết áp, tiểu đường, thoái hoá khớp, loãng xương và gút.
Sự mất nước chung của cơ thể (dẫn đến suy giảm chức năng thận và giảm đào thải axit uric qua thận) có thể xảy ra sau khi tắm hơi, lao động hay tập luyện trong điều kiện thời tiết nóng ấm với chế độ bù nước kém, sau một số ngày bị rối loạn tiêu hoá (đi phân lỏng), dùng thuốc lợi tiểu. Các yếu tố này tăng nguy cơ xuất hiện các cơn gút gấp.
Cơn đau gút cấp thường xảy ra sau khi bị chấn thương chân, đi bộ quãng đường dài, đá bóng, sau phẫu thuật, sau cuộc lái xe đường dài, cơ thể bị nhiễm lạnh. Trong các trường hợp này bàn chân bị mất nước. Kết quả là tăng cường sự lắng đọng muối ở các khớp.
Ở phụ nữ, sự phát triển bệnh gút hoặc tăng tần suất tái phát các cơn đau gút cấp thường liên quan đến chế độ ăn quá kiêng khem và cơ thể quá gầy, sử dụng các chất lợi tiểu để giảm cân, sau giai đoạn tiền mãn kinh. Tất cả những điều này dẫn đến rối loạn trầm trọng sự trao đổi chất và kết quả là xuất hiện bệnh gút.
Các biện pháp phòng ngừa và chữa trị bệnh gút:
Ăn uống điều độ, không được nhịn đói, bỏ bữa, không dùng các chất kích thích như ớt, hạt tiêu, các loại dưa muối và cà muối. Hạn chế tối đa ăn các loại thực phẩm như gan, tim, lưỡi động vật, nấm, trứng cá, kem, bánh ga tô có kem. Tránh ăn các đồ thịt cá rán, thịt chó, nước canh xương hầm, canh cá; tránh ăn một số loại rau quả như các loại đậu đỗ, súp lơ, các loại cà, củ cải. Có thể ăn các loại thịt màu trắng như thịt lườn gà, thịt thỏ vì trong chúng có chứa ít chất purin.
Không uống rượu, hạn chế uống bia, không uống nước chè, cà phê đặc và các đồ uống có ga. Trong một công trình nghiên cứu, người ta thấy rằng ở nhóm người uống khoảng 1 lít bia trở lên trong một ngày có tỷ lệ bị gút gấp 2,5 lần so với nhóm người uống bia hạn chế.
Các thức ăn tốt cho việc phòng và chữa bệnh gút bao gồm sữa và các sản phẩm của sữa như sữa chua, sữa Yourt, dưa chuột, dưa hấu. Bánh mỳ, trứng, đa số các loại trái cây, rau quả (khoai tây, bí đao, bí đỏ, cải bắp, hành, tỏi… trừ cà chua) bệnh nhân gút đều có thể sử dụng.
Uống nhiều nước (2-3 lít/ngày), các loại nước khoáng có tỷ lệ chất khoáng thấp và có tính kiềm có tác dụng thải bớt lượng axit uric thừa trong cơ thể cũng rất tốt cho bệnh nhân gút (có thể uống 1-3 cốc/ngày trước bữa ăn 1 giờ trong giai đoạn tát phát của bệnh).
Điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý, tập luyện các bài tập rèn sức bền vừa có tác dụng tăng cường sức khoẻ chung, giảm cân và điều hoà các quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên cần nghỉ tập trong giai đoạn tái phát của bệnh.
Tóm lại, bệnh gút phát triển do sự rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tuy có tính di truyền nhưng có thể đề phòng sự phát triển của bệnh. Đối với bệnh nhân gút, việc tuân thủ thường xuyên chế độ ăn uống và sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ là rất quan trọng để phòng hoặc hạn chế sự tái phát những cơn đau gút cấp. Trong nhiều trường hợp, tình trạng bệnh được cải thiện đáng kể chỉ cần nhờ điều chỉnh chế độ ăn.








