Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 08/05/2006 14:03 (GMT+7)

Một cách mới trong đánh giá trình độ cán bộ khoa học

Đánh giá trình độ cán bộ khoa học luôn là mối quan tâm của các cơ quan nghiên cứu cũng như quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Cho tới nay, trong việc bình chọn cán bộ khoa học, với các phương pháp được sử dụng, người ta vẫn thường nghe thấy những lời phàn nàn là không rõ ràng, bè phái… Gần đây, Jorge Hirsch, một nhà vật lý ở Đại học California (Mỹ), đã tìm ra một cách làm để tránh khỏi những lời phàn nàn như vậy. Ông đưa ra một độ đo mới về thành tựu nghiên cứu. Độ đo này, theo ông là minh bạch, không thiên vị và rất khó gian lận. Độ đo này được gọi là "chỉ số h" (h - index), nó phụ thuộc cả số lượng công trình công bố của nhà khoa học cũng như tác động của các công trình đó đến những người ngang hàng về chuyên môn (peer). Chỉ số h này cũng được sử dụng để lựa chọn các thành viên của các hội khoa học cũng như để cung cấp thông tin cho các quyết định về tài trợ và bổ nhiệm.

Sidney Redner, một nhà vật lý ở Đại học Boston , hiện đang nghiên cứu về thống kê các trích dẫn khoa học (scientific citation statistics), đã nói về khám phá của Hirsch: "Đó là một ý tưởng rất khôn khéo". Ông hoan nghênh cách đánh giá mà Hirsch đề xuất vì nó thay cho cách thống kê hiện nay bị đơn giản hóa và "để quá nhiều chỗ cho sự giải thích sai lạc".

Redner cũng cho rằng chỉ tiêu h của Hirsch có thể là một tiêu chí khách quan có ích để bình chọn ở những cơ quan như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ hay Hội Hoàng gia (tức là Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia của Anh). Ông là người đã tham gia vào việc lựa chọn các thành viên (fellows) của Hội Vật lý Mỹ. Theo ông, những nhân tố ngoài chất lượng nghiên cứu không thể tránh được cũng có vai trò trong việc lựa chọn. Ông nói: "Nếu anh không phải là một người làm chính trị, anh sẽ không được đề cử". Tiêu chí có tính hệ thống như chỉ số h sẽ làm cho công việc này đạt trình độ cao hơn.

Chỉ số h là số lượng cao nhất các công trình mà nhà khoa học đã có và mỗi công trình phải có số lần được trích dẫn (sử dụng) ít nhất bằng thế. Nói cụ thể hơn, một nhà khoa học nào đó sẽ có chỉ số h là 50 nếu ông ta đã có 50 công trình công bố và mỗi công trình trong số đó đã được trích dẫn ít nhất 50 lần. Nếu nhà nghiên cứu có tất cả 50 công trình công bố nhưng trong số đó chỉ có 15 công trình được trích dẫn, mỗi công trình 15 lần, thì chỉ số h của ông ta chỉ là 15. Một nhà nghiên cứu khác có tất cả 30 công trình, nhưng 20 công trình trong số đó được trích dẫn mỗi công trình là 20 thì chỉ số h của nhà nghiên cứu này là 20, cao hơn người có 50 công trình nói trên. Một nhà nghiên cứu có 5 công trình và công trình nào cũng được trích dẫn mỗi công trình nhiều hơn 5 lần thì chỉ số h của ông ta cũng chỉ kể là 5. Như vậy phương pháp của Hirsch đã gắn liền số lượng công trình công bố của nhà khoa học với chất lượng của các công trình. Cái hay, cái đặc sắc của phương pháp mới này chính là ở chỗ đó. Cách đánh giá này, theo Hirsch, lành mạnh hơn những cách đánh giá khác dựa trên công trình công bố. Nếu như ta chỉ đếm tổng số công trình thì ta có thể sẽ khen thưởng những người có nhiều công trình kém, còn nếu chỉ đếm những công trình được xếp hạng cao nhất thì lại có thể không thừa nhận toàn bộ công việc nghiên cứu to lớn và nhất quán của nhà khoa học. Và sẽ khó có thể lạm phát chỉ số h của bản thân, ví dụ như bằng cách tự trích dẫn. Theo Hirsch, "Anh không thể làm giả chỉ số h", vì nó phải dựa trên toàn bộ công việc nghiên cứu đã được tiếp nhận như thế nào. Qua thời gian thực hiện thống kê các trích dẫn khoa học, Redner cũng đã có nhận xét: "Làm thủ thuật trên toàn bộ công việc là rất khó".

Để làm ví dụ, dưới đây nêu chỉ số h của một số nhà vật lý có tên tuổi:

110: Ed Witten, Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, người đã nhìn thấy 5 lý thuyết dây tưởng chừng khác nhau nhưng thực ra chỉ là 1. Ông được nhiều đồng nghiệp xem là nhà vật lý xuất sắc nhất đang sống.

94: Marvin Cohen, Đại học California , nhà lý thuyết chất ngưng tụ (chất rắn và chất lỏng).

91: Philip Anderson, Đại học Princeton, nhà lý thuyết chất ngưng tụ, Giải Nobel năm 1977.

86: Manuel Cardona, Viện Max Planck về Nghiên cứu Chất rắn, nghiên cứu về các chất siêu dẫn.

79: Pierre - Gilles de Gennes, ESPCI (Paris), nhà lý thuyết chất rắn, Giải Nobel năm 1991.

68: Frank Wilczek, Viện Công nghệ Massachusetts , Giải Nobel năm 2004 (do nghiên cứu về lực mạnh).

66: David Gross, Viện Vật lý Lý thuyết Kavli ở Santa Barbara, Giải Nobel năm 2004 (cùng với Wilczek).

Hirsch cho biết, sau 20 năm nghiên cứu, có thể nói chỉ số h bằng 20 là dấu hiệu của thành công, 40 là "nhà khoa học lỗi lạc thường chỉ thấy duy nhất ở những viện nghiên cứu lớn", khoảng 12 là đủ tốt để bảo đảm bổ nhiệm ở đại học. Còn để là thành viên của Hội Vật lý Mỹ chẳng hạn thì điển hình phải có h vào quãng 15-20, là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ thì khoảng 45. Năm 2005, các thành viên mới của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ về vật lý và thiên văn có h trung bình là 44.

Các ngành khác nhau có số lượng trích dẫn không như nhau (khi xét các trình độ tương ứng), vì vậy mỗi ngành cần tìm ra ngưỡng riêng của mình, các nhà sinh học có thể có chỉ số h lên đến 190.

Một trong những đặc điểm quan trọng của phương pháp chỉ số h là nó còn kéo ra ngoài bóng tối những nhà nghiên cứu có những đóng góp có ý nghĩa và bền bỉ nhưng không có tiếng như họ đáng phải có. Chẳng hạn, nhiều nhà vật lý chất rắn đã phải rất ngợi khen những đóng góp của Manuel Cardona (chỉ số h là 86, đã nói ở trên). Nhưng ít người có thể xếp ông ngang với Philip Anderson (h: 91) và Pierre - Gilles de Gennes (h: 79) là những người đã được nhận Giải Nobel.

Ed Hughes, một nhà quản lý ở Anh, đang làm nhiệm vụ đánh giá chất lượng các Khoa về khoa học ở đại học để xác định việc tài trợ cho các Khoa đó, cho biết là người ta cố ý tránh việc dùng các số đo mà thiên về sử dụng các ban xét duyệt dùng chuyên gia (expert review panels). Ông nói: "Chúng tôi không sử dụng các nhân tố tác động và các chỉ tiêu trích dẫn". Chính vì vậy, trong cuộc lấy ý kiến tư vấn các nhà nghiên cứu tiến hành năm 2001, 96% số người đã trả lời là nên sử dụng cách xét duyệt dùng người ngang hàng về chuyên môn (peer review).

Nguồn: tchdkh.org.vn số 04/2006

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.