Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/05/2008 21:58 (GMT+7)

Mô hình nuôi tôm sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long

I. Mở đầu

Trong mấy năm gần đây, nghề nuôi tôm mặn lợ ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) phát triển rất nhanh. Trước năm 2000, diện tích nuôi tôm của khu vực chỉ khoảng 200.000ha, hiện nay diện tích này đã lên khoảng 450.000ha. Diện tích nuôi tôm công nghiệp cũng gia tăng đáng kể, tại hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng đạt trên 10.000ha. Chính vì vậy, môi trường nước nuôi trồng thủy sản bị ô nhiễm ngày càng nhiều. Qua các đợt khảo sát cho thấy, môi trường nước ở một số tỉnh của khu vực Nam sông Hậu có hiện tượng ô nhiễm hữu cơ. Tôm nuôi bị bệnh và chết, gây tổn thất lớn cho người nuôi tôm.

Dựa vào điều kiện tự nhiên và hiện trạng nuôi tôm ở các tỉnh ÐBSCL, nuôi tôm sinh thái được nghiên cứu xây dựng theo các mô hình sau :

- Nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa.

- Nuôi tôm sinh thái trong đầm nuôi quảng canh gồm đất rừng và đất vùng chuyển đổi từ nông nghiệp.

II. Phương pháp nghiên cứu

1. Bố trí thí nghiệm

Xây dựng 8 điểm nuôi ở các vùng khác nhau, trong đó có 4 điểm tôm lúa và 4 điểm tôm đầm quảng canh.

1.1. Các điểm nuôi tôm lúa

- Hai điểm tôm lúa ở vùng sinh thái nội đồng, điều kiện môi trường nước có độ mặn không cao trong mùa khô và hoàn toàn ngọt trong mùa mưa tại thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, chịu ảnh hưởng triều biển Ðông và Tây. (Ðiểm 1 có diện tích 1,7ha và Ðiểm 2 có diện tích 2,5ha).

- Hai điểm tôm lúa ở vùng sinh thái nội đồng, điều kiện môi trường nước có độ mặn cao trong mùa khô và ngọt trong mùa mưa, chịu ảnh hưởng triều biển Ðông và Tây. (Ðiểm 3 có diện tích 2 ha ở xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau và điểm 4 có diện tích 2 ha ở xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).

1.2. Các điểm nuôi đầm quảng canh

- Hai điểm nuôi đầm quảng canh ở Bạc Liêu ở vùng đất sinh thái chuyển đổi từ nông nghiệp có độ mặn cao trong mùa khô và rất thấp trong mùa mưa ở xã An Trạch, huyện Ðông Hải, tỉnh Bạc Liêu. (Ðiểm 1 : diện tích 2 ha. Ðiểm 2 : diện tích 2 ha).

- Hai điểm nuôi đầm quảng canh ở tỉnh Cà Mau, đất có nguồn gốc tôm rừng. Ðộ mặn cao trong mùa khô và lợ trong mùa mưa. (Ðiểm 3 có diện tích 2 ha ở xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn, chịu ảnh hưởng triều biển Ðông và điểm 4 có diện tích 2 ha ở xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, chịu ảnh hưởng triều biển Tây).

2. Giải pháp kỹ thuật nuôi tôm

2.1. Thiết kế đầm ruộng nuôi

Ðầm và ruộng nuôi (hình dạng tùy theo điều kiện có sẵn) mương bao quanh rộng 3m, sâu 6-7dm với mô hình nuôi tôm lúa và đầm quảng canh và mương rộng 5-10m, sâu 1m với mô hình nuôi tôm quảng canh đất rừng. Ðầm nuôi có diện tích đầm lắng để bổ sung nước trong quá trình nuôi. Ðầm lắng chiếm khoảng 10-20% tổng diện tích nuôi. Tuy nhiên, đầm nuôi tôm quảng canh ở đất rừng khó giữ nước nên phải thường xuyên lấy và thay nước.

2.2. Kỹ thuật nuôi

Vuông, đầm được làm vệ sinh trước vụ nuôi, bón vôi (20-100kg/1.000m 2), dùng thuốc để diệt cá dữ còn sót trong vuông, đầm (1kg/50m 3nước). Sử dụng phân hữu cơ (ba lá xanh) bón lót gây màu (50-100kg/ha) ở các điểm nuôi tôm lúa và đầm quảng canh đất lúa. Lấy nước vào vuông đầm qua lưới lọc hoặc túi lọc (khi sử dụng bơm).

2.3. Thả giống

Thả giống với mật độ thả 2,5con/m 2- 3con/m 2ở mô hình tôm lúa và ở đầm quảng canh. Trong mô hình tôm lúa thả giống 2 lần, trong mô hình tôm đầm quảng canh thả giống 3 lần trong 1 vụ nuôi. Thời gian thả giống cách nhau 1 - 2 tháng.

2.4. Theo dõi các chỉ tiêu môi trường

- Ðo định kỳ hằng tháng các yếu tố môi trường gây ô nhiễm NH 3, PO 4, COD và chất rắn lơ lửng để có giải pháp làm sạch môi trường.

- Ðo hằng ngày các yếu tố môi trường nuôi thủy sản pH, nhiệt độ, độ trong và độ mặn.

- Thu mẫu kiểm tra định kỳ hằng tháng thực vật phù du để có giải pháp về thức ăn tự nhiên.

- Theo dõi tăng trưởng của tôm và tỷ lệ sống khi thu hoạch.

III. Kết quả nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa

1. Các yếu tố môi trường nước ở ruộng

- Ðộ mặn (%o)

Khi mới thả tôm, độ mặn của điểm 1 và 2 trên 10, sau 1 tháng nuôi lên khoảng 30 và sau đó hạ dần đến khi nước ngọt hoàn toàn.

Ðiểm 3 và 4, khi mới thả tôm độ mặn trên 20, sau 2 tháng nuôi lên trên 30, sau đó hạ dần tới khi nước ngọt hoàn toàn.


Hình 1: Biến thiên độ mặn của các điểm tôm lúa.
Hình 1: Biến thiên độ mặn của các điểm tôm lúa.
- Ðộ pH :Ðộ pH của các điểm nuôi thay đổi theo thời gian (hình 2).

Ðộ pH của các điểm có biến động nhưng thường ở mức 7-8, riêng điểm 1 và 2 khi mới mưa pH có lúc giảm xuống 6, trong trường hợp này sử dụng vôi bột rải ven bờ và pH tăng trở lại mức bình thường.

- Nhiệt độ : Nhiệt độ của nước chủ yếu thay đổi theo thời gian trong ngày. Buổi sáng nhiệt độ thường ở khoảng 28 - 31 0C và buổi chiều nhiệt độ nằm trong khoảng 31 - 36 0C. Trong trường hợp nhiệt độ tăng cao vào buổi chiều (trên 35 0C), cần bổ sung thêm nước để hạ nhiệt độ.


Hình 2: Biến thiên pH theo thời gian nuôi
Hình 2: Biến thiên pH theo thời gian nuôi
2. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trong các tháng nuôi

Hàm lượng NH 3trong ruộng nuôi ở các điểm luôn ở mức giới hạn cho phép (dưới 0,1mg/l). COD trong đầm và ruộng nuôi cũng trong giới hạn cho phép (dưới 20). PO 4ở mức thấp không gây ô nhiễm môi trường. Riêng chất rắn trong ruộng tương đối cao do trong nước có phù sa.

3. Thực vật phù du

Sinh lượng của phù du thực vật ở các ruộng nuôi khác nhau rất nhiều. Sinh lượng trong ruộng nuôi thay đổi qua các tháng nuôi, sinh lượng ở các điểm nuôi từ 5.000 - 20.000 cá thể/lít, cao nhất là Bacillariophyta, sau tảo silic là tảo Chlonophyta. Tuy nhiên, ở các điểm, tảo lam có thường xuyên nhưng không nhiều (như ở điểm 1 vào tháng thứ 2).

4. Tỷ lệ sống và tăng trưởng của tôm sau 120 ngày nuôi

Tên điểm

Tỷ lệ sống (%)

Trọng lượng thân (g)

Ðiểm 1

22,6

29,88 ± 2,30

Ðiểm 2

31,3

31,95 ± 2,39

Ðiểm 3

23,6

31,65 ± 2,12

Ðiểm 4

30,0

30,02 ± 2,53

5. Thu hoạch

Sau thời gian 3,5 tháng, ở các điểm tôm được thu hoạch tỉa (cỡ từ 30 - 35 con/kg). Năng suất thu hoạch bình quân đạt trên 200kg/ha : (Ðiểm 1 : 270kg, năng suất : 159kg/ha. Ðiểm 2 : 650kg, năng suất : 260kg/ha. Ðiểm 3 : 374kg, năng suất : 187kg/ha. Ðiểm 4 : 450kg, năng suất : 225kg/ha).

IV. Kết quả nuôi tôm sinh thái trong đầm quảng canh

1. Các yếu tố môi trường nước ở đầm

- Ðộ mặn của nước trong đầm (%o)

Hình 3: Biến thiên độ mặn của các đầm quảng canh.
Hình 3: Biến thiên độ mặn của các đầm quảng canh.
Ðộ mặn của các điểm nằm trong khoảng 20-25, tăng dần đến tháng nuôi thứ 3 và thứ 4 lên hơn 30, sau đó giảm dần xuống dưới 20. Ðối với các đầm quảng canh độ mặn tăng dần và không đột ngột nhưtrong mô hình tôm lúa, nguyên nhân do lượng nước được thay đổi nhiều hơn.


- Ðộ pH

Ðộ pH của các đầm quảng canh không biến động nhiều, thường ở mức 7,5 - 8, có lúc thấp hơn 7,5 và có Có lúc cao hơn 8 nhưng không đáng kể.

Hình 4: Biến thiên pH của các đầm quảng canh.
Hình 4: Biến thiên pH của các đầm quảng canh.
- Nhiệt độ : Thay đổi theo thời gian trong ngày. Buổi sáng thường khoảng 28 - 31 0C và buổi chiều thường trong khoảng 31 - 34 0C. Nhiệt độ nước trong đầm quảng canhtương đối ổn định do mương bao rộng và sâu nên lượng nước nhiều.


2. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường

Trong mô hình tôm đầm quảng canh, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường cũng ở mức thấp hơn giới hạn cho phép. Ðiều này cho thấy nuôi sinh thái môi trường không bị ô nhiễm.

3. Thực vật phù du :Thực vật phù du của các đầm quảng canh cũng không khác biệt với các điểm ở mô hình tôm lúa. Tảo Bacillariophyta chiếm ưu thế, các loại khác cũng có hiện diện với số lượng rất ít. Sinh lượng cao nhất có tháng trên 20.000 cá thể/lít, nhưng cũng có tháng dưới 5.000 cá thể/lít. Mức trung bình từ 5.000 đến 20.000 cá thể/lít.

4. Tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm sau 120 ngày nuôi

Tên điểm

Tỷ lệ sống (%)

Trọng lượng thân (g)

Ðiểm 1

25,7

30,39 ± 2,36

Ðiểm 2

21,4

29,96 ± 1,76

Ðiểm 3

17,8

32,71 ± 2,59

Ðiểm 4

17,3

31,50 ± 2,16

- Tỷ lệ sống ở điểm 1 và 2 cao hơn điểm 3 và 4, nguyên nhân do đất chuyển đổi từ nông nghiệp dễ giữ nước và quản lý môi trường nước hơn đất rừng.

- Tăng trưởng của tôm nuôi ở điểm 3 và 4 cao hơn điểm 1 và 2 vì đất rừng màu mỡ hơn đất chuyển đổi từ nông nghiệp.

5. Thu hoạch

Sau 3,5 tháng, thu hoạch ở các điểm 1 và 2 (chỉ thu tỉa tôm cỡ từ 30 - 35con/kg). Riêng điểm 3 và 4 thu hoạch bằng cách tháo nước qua cống và thu tôm lớn.

Năng suất thu hoạch bình quân khoảng 150-200kg/ha/vụ : (Ðiểm 1 : 390kg, năng suất 195kg/ha/vụ. Ðiểm 2 : 320kg, năng suất : 160kg/ha/vụ. Ðiểm 3 : 349kg, năng suất 175kg/ha/vụ. Ðiểm 4 : 300kg, năng suất 150kg/ha/vụ).

V. Kết luận

Nuôi tôm sinh thái chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên nên không thể thả tôm nuôi với mật độ dày. Mật độ thả tương đối phù hợp đối với mô hình tôm lúa (2,5con/m 2) và mô hình tôm đầm quảng canh (3con/m 2) 1 vụ nuôi. Nuôi tôm sinh thái sử dụng thức ăn tự nhiên và sử dụng ít phân hữu cơ gây màu chưa làm ô nhiễm môi trường. Do đó, không cần xử lý nước thải ra. Thực vật phù du trong ruộng và đầm nuôi không phong phú về thành phần loài và sinh khối, trung bình 5.000 - 20.000 cá thể/lít. Nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa cho năng suất ổn định và cao hơn so với đầm quảng canh do quản lý môi trường nước dễ dàng hơn. Năng suất nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa đạt 200kg/ha. trong khi năng suất tôm nuôi trong đầm quảng canh chỉ đạt 150kg - 200kg/vụ.


Nguồn: Thông tin KHCN và Kinh tế Thuỷ sản, số 09/2007

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hải Phòng: Sáp nhập Hội Làm vườn và Hội Kế hoạch hóa gia đình về Liên hiệp hội Thành phố
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Quyết định số 3494/QĐ-UBND ngày 29/8/2026 về việc cho phép sáp nhập Hội Làm vườn thành phố Hải Phòng và Hội Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hải Phòng vào Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng.
Thanh Hoá: Tập huấn công nghệ số và ứng dụng số trong sản xuất và đời sống
Ngày 08/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội tỉnh) đã phối hợp với Hội Tin học Thanh Hóa và Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Hội nghị tập huấn với chủ đề “Công nghệ số và ứng dụng số cho công dân xuất sắc và tiêu biểu trong lao động và sản xuất trên địa bàn tỉnh”.
Tuyên Quang: Tổng kết dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản chè Shan tuyết
Ngày 04/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ Môi trường Toàn cầu (UNDP/GEF SGP) tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát huy giá trị quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế tỉnh Tuyên Quang”.
Kỷ niệm 20 năm thành lập Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ
Sáng 6/9 tại Hà Nội, Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ (CTCS) thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập. Tại sự kiện, công trình “Almanach Những nền văn minh thế giới” do Trung tâm thực hiện đã chính thức nhận Bằng xác lập Kỷ lục Việt Nam cho công trình “Almanach những nền văn minh thế giới”.
Khởi động Dự án “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế - giai đoạn 2”
Ngày 25/8/2026, tại UBND phường Phong Điền, thành phố Huế, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (Trung tâm SRD) phối hợp với UBND phường Phong Điền tổ chức buổi họp khởi động Dự án VM083 “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế – giai đoạn 2”.