Mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Những thách thức và triển vọng
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Nhiều công ty, doanh nghiệp, liên doanh ra đời, liên tục phát triển và đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp. Nhiều nhà khoa học tâm huyết đã tìm tòi và sáng tạo để ứng dụng tri thức khoa học vào đời sống, xã hội. Một số trường đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học đã thành lập các doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất - kinh doanh. Kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có giá trị, thành công được giới thiệu, chào bán tại các Chợ công nghệ và thiết bị được tổ chức hàng năm ở nhiều địa phương, nhiều giải thưởng ứng dụng KH&CN cấp quốc gia phần nào đã nói lên điều này. Tuy nhiên, sự cồng kềnh trong quản lý cùng với sự nghèo nàn về cơ sở vật chất vẫn làm nản lòng nhiều nhà khoa học, dẫn tới nhiều hạn chế trong hoạt động ứng dụng KH&CN.
Năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định như một luồng gió mới làm tăng sinh khí cho các đơn vị khoa học và các nhà khoa học đang nung nấu những hoài bão đem trí tuệ của mình góp phần vào tiến trình phát triển, biến tri thức thành các sản phẩm kinh tế, làm giàu đất nước. Thông qua Nghị định, Chính phủ cũng như toàn dân đang đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà khoa học phải đưa KH&CN nước ta lên một tầm cao mới. ứng dụng KH&CN phải là một hoạt động thường xuyên trong mọi lĩnh vực, mang tính xã hội cao và có hiệu quả kinh tế lớn.
Nghị định đã tạo nhiều thuận lợi cho các hoạt động ứng dụng KH&CN như: Trao quyền tự chủ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và kinh doanh; chính sách ưu đãi thuế và một số chính sách ưu đãi khác. Những chính sách đột phá này thể hiện sự thấu hiểu và cảm thông của Chính phủ và các cơ quan quản lý đối với các nhà khoa học trong hoạt động ứng dụng KH&CN - một lĩnh vực hoạt động mang tính đặc thù và thị trường còn nhỏ hẹp. Do vậy, nó cần được quán triệt một cách kỹ lưỡng trong toàn bộ bộ máy quản lý ở các cấp, đặc biệt là các bộ phận quản lý liên quan trực tiếp như: Cơ quan quản lý KH&CN, kế hoạch và đầu tư, cơ quan thuế, kiểm toán, hải quan... Để Nghị định đi vào cuộc sống một cách thiết thực, cần chấm dứt tình trạng “trên bảo, dưới không nghe” hoặc quá nhiều quy chế, chế tài kèm theo nhưng lại mâu thuẫn với nhau.
Một trong những yếu tố làm hạn chế hoạt động ứng dụng KH&CN ở các doanh nghiệp là chính sách thuế và chế độ quyết toán của ta còn quá phức tạp và mang tính áp đặt. Chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được quy định tại Điều 19, Chương IV của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Song việc quyết toán thuế hàng năm của nhiều doanh nghiệp vẫn cứ phải “nộp trước, miễn giảm sau”. Và để được miễn hoặc giảm thuế thì doanh nghiệp phải lo hàng loạt giấy tờ từ Bộ này sang Bộ khác. Hoạt động sản xuất - kinh doanh nói chung cần phải đóng thuế để tạo ra ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, cần có một chính sách thuế thông thoáng và phù hợp với từng loại hình sản xuất-kinh doanh, đặc biệt là đối với hoạt động ứng dụng KH&CN. Cần coi trọng việc tạo ra các tư duy ứng dụng vào sản xuất và đời sống khoa học trong toàn xã hội và nên xem đó là một thành tựu trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở vật chất nghèo nàn, thiết bị cũ và thiếu luôn là bài toán khó đặt ra cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KH&CN nói riêng. Để cho “cái khó không bó cái khôn”, bên cạnh sự nỗ lực của các doanh nghiệp thì các cơ quan quản lý cần phải cùng vào cuộc với doanh nghiệp, mạnh dạn đầu tư cho doanh nghiệp theo nhiều hình thức khác nhau để cùng tháo gỡ khó khăn và mở rộng hợp tác. Những người làm việc trong các doanh nghiệp KH&CN hầu hết là các nhà khoa học, không có nhiều kiến thức và kinh nghiệm về thương trường. Bên cạnh đó, tâm lý ỷ lại, dựa vào bao cấp còn nặng nề. Đây là những lý do khiến nhiều đơn vị nghiên cứu còn chưa sẵn sàng chuyển đổi.
Việc phân bổ kinh phí nhà nước cho các đề tài, dự án nghiên cứu đang được chuyển sang hình thức đấu thầu. Đây là một việc làm tuy muộn nhưng rất cần thiết. Hơn nữa, cần phải lấy hiệu quả kinh doanh các sản phẩm của đề tài, dự án đó làm tiêu chí chính trong quá trình đấu thầu, tuyển chọn và quản lý. Có như vậy, kinh phí mà Nhà nước đầu tư cho KH&CN mới thực sự có hiệu quả.
Là những người làm việc tại một công ty sản xuất - kinh doanh và ứng dụng KH&CN trong một trường đại học, chúng tôi hiểu rõ trách nhiệm của mình và mong muốn xây dựng công ty trở thành chiếc cầu nối giữa KH&CN với đời sống, xã hội. Chúng tôi đang có một điểm tựa khá vững chắc, đó là trí tuệ của hàng trăm nhà khoa học và trước mặt chúng tôi, nhiều bài toán khoa học phục vụ đời sống, xã hội đang được đặt ra. Tổ chức như thế nào để những trí tuệ mà ta đang có giải quyết được những bài toán mà đất nước đang cần. Chuyển giao tri thức từ nhà trường vào đời sống là trách nhiệm to lớn của các trường đại học và các nhà khoa học. Chính những hoạt động ứng dụng này sẽ góp phần hoàn thiện quá trình đào tạo các nhà khoa học trẻ. Các xưởng sản xuất, các phòng thí nghiệm của các doanh nghiệp KH&CN là nơi học tập và rèn luyện tốt cho sinh viên, thực hiện phương châm học đi đôi với hành. Chúng tôi tin tưởng rằng, các doanh nghiệp KH&CN sẽ hình thành nhiều và đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các thành tựu KH&CN vào đời sống, xã hội. Nó sẽ tạo ra động lực khích lệ các nhà khoa học hăng say hơn, tự tin hơn trong vai trò kép của mình: Vừa là nhà khoa học, vừa là doanh nghiệp.
Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, số 7/2006








