Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 12/09/2009 23:40 (GMT+7)

Mở bể than 210 tỷ tấn: Lắng nghe phản biện

Ông Dương Hồng Phi, thành viên Hội đồng phản biện VUSTA: Mức độ tin cậy thấp

* Đánh giá trữ lượng, tài nguyên than của bể than đồng bằng sông Hồng cần xem xét lại, mức độ tin cậy còn thấp do:

- Tài liệu địa chất đánh giá quy luật phân bố các vỉa than trong hệ tầng Tiên hưng theo đường phương và hướng cắm hầu như chưa có.

- Điều kiện cổ địa lý, chế độ kiến tạo trong quá trình tạo than miền võng Hà Nội rất phức tạp. Sự biến đổi về tướng đá trầm tích phổ biến, quyết định mức độ duy trì, ổn định của các vỉa than, hình thái vỉa, chiều dày vỉa, cấu tạo vỉa.

Ví dụ, Khoái Châu trên diện tích 85km 2, từ lộ vỉa dưới lớp phủ đến 1200m có 20 vỉa than, trong đó có 5 vỉa có giá trị công nghiệp, chỉ có vỉa 3 là duy trì và tương đối ổn định, các vỉa 14, 15, 17 và vỉa 4 mức độ duy trì, ổn định kém. Tổng chiều dự trính trữ lượng, tài nguyên khoảng 15 – 16m. Hệ số chứa than công nghiệp theo chiều dày cột địa tầng khoảng 1,5% – 1,6%.

Trong khi đó, các vùng còn lại nói trên, có tổng chiều dày than để dự tính tài nguyên dao động từ 35m – 45m, hệ số chưa than 3,5% - 4,5% là quá cao.

* Do tính chất cơ lý của các đá sét kết, bộ kết, cát kết, sét than trong hệ tầng chứa than rất mềm yếu và điều kiện Địa chất thủy văn – Địa chất công trình của Hệ tầng Tiên Hương và Đệ Tứ cực kỳ phức tạp nên công nghệ khai thác phải lưu ý.

Các công nghệ khai thác khí hóa than ngầm ở Nga được tác giả nêu trong đề án chỉ đến năm 1990, từ năm 1990 còn khai thác hay đã ngừng và nếu ngừng cần nêu các lý do cụ thể. Trong thuyết minh có đề cập đến công nghệ khai thác khí hóa than ngầm ở Nga và sau này ở Trung Quốc mắc phải sai lầm như Nga.

Vậy nhưng sai lầm này đối với dự án của đề tài có khắc phục được không. Vấn đề này cần phải đề cập một cách đầy đủ trong các dự án thử nghiệm công nghệ khai thác khí hóa than ngầm.

* Việc triển khai các đề án khảo sát, thăm dò và thử nghiệm công nghệ khai thác, chế biến, sử dụng than đồng bằng sông hồng là cần thiết. Song vấn đề khai thác cần có sự chuẩn bị, tính toán kỹ lưỡng thận trọng.

Vấn đề quan tâm nhất ở đây là sự sạt lún mặt đất sau khi khai thác thay đổi địa hình địa mạo vùng đồng bằng sông Hồng, nó sẽ không xảy ra sau vài chục năm mà có thể hàng trăm năm sau. Hậu quả ấy cần được suy ngẫm.

PGS, TS. Nguyễn Phương, thành viên VUSTA: Rủi ro có thể xảy ra

Cần đề cập bức tranh tổng quát về tài nguyên than Việt Nam , hiện trạng thăm dò, khai thác, tiêu thụ. Diện tích lựa chọn nghiên cứu thử nghiệm công nghệ khai thác phải bao đảm tính đại diện cho bể than và khả năng thực khi khi triển khai nghiên cứu.

Đề án phát triển trên khu vực đông dân cư; là vựa thóc của Miền bắc. Ở đây có nhiều di tích văn hóa, di tích lịch sử, nhiều khu công nghiệp và gần thủ đô Hà Nội.

Vì vậy, vấn đề cực kỳ quan trọng của dự án là giảm thiểu ảnh hưởng đến dân sinh và xã hội, cần đặc biệt chú ý giải pháp thủ tiêu, xử lý các sự cố và biến động về môi trường có thể xảy ra ngoài dự kiến. Đặc biệt hiện tượng sụt lún nhiều khi nằm ngoài tầm kiểm soát và ngoài mong muốn của chúng ta.

Một vấn đề cần lưu ý là điều kiện địa chất thủy văn – địa chất công trình bể than đồng bằng sông Hồng là hết sức phức tạp. Mặt khác, trên đó là các khu dân cư, khu công nghiệp, là các thành phố, thị xã đông dân cư, hoàn toàn khác so với một số mỏ ở nước ngoài tác giả tham khảo trích dẫn trong đề án này.

Phó viện trưởng Viện KHCN mỏ- TS. Trương Đức Dư: Cân nhắc an ninh lương thực và an ninh năng lượng

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Việc khai thác khí hóa than đã được thế giới nghiên cứu từ lâu và đã có khá nhiều dự án thử nghiệm ở các nước. Song hiện nay chỉ tồn tại 1 mỏ khí hóa than tại Uzubekixtan hoạt động từ năm 1960 đến nay.

Ngay cả Trung Quốc là nước phát triển khí hóa than, nhưng tại nhiều mỏ than sâu 700m, họ vẫn thực hiện khai thác hầm lò. Như vậy phải hiểu khí hóa than là công nghệ khai thác đặc biệt mà ở mỏ đó các điều kiện cho phép khai thác hầm lò không thực hiện được hoặc kém hiệu quả.

Với phân tích trên, cho thấy việc khí hóa than ở đồng bằng sông Hồng phải được nghiên cứu chặt chẽ trên cơ sở rõ ràng về điều kiện địa chất, nhất là độ bền vững đá vách vỉa và nước trong khu mỏ. Nếu điều kiện cơ bản trên đảm bảo thì sẽ lập và triển khai dự án thử nghiệm ở quy mô nhỏ. Kết quả thử nghiệm tốt sẽ xem xét khí hóa ở quy mô lớn hơn. Đồng thời xác định mức sâu tối thiểu của vỉa than thực hiện công nghệ khí hóa than, bởi phía trên mặt mỏ là đồng ruộng và các công trình cần bảo vệ. Đó là sự cân nhắc đảm bảo giữa an ninh năng lượng và an ninh lương thực.

Bàn thêm về địa chất thủy văn:

* Mỏ Bình Minh: Tính lượng nước chảy vào mỏ chưa đảm bảo độ tin cậy bởi quan hệ thủy văn giữa sông Hồng với địa tầng khu mỏ rất chặt chẽ: báo cáo chương này tính lượng nước chảy vào mỏ là 5628m3/h, trong thuyết minh tổng thể đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng ghi “Tổng lượng nước chảy vào công trình khai thác hầm lò là 16.829 m3/h”là không thống nhất.

Theo báo cáo kết quả khảo sát thăm dò năm 2003 do Công ty địa chất Mỏ lập, dự tính lượng nước chảy vào công trình khai thác mỏ hầm lò là 20.096m 3/h.

* Mỏ Tây Sa: Việc xác định lượng nước vào mỏ này cũng chưa được tính toán rõ. Báo cáo cũng chưa có nghiên cứu dự báo dịch động đất đá và sụt lún bề mặt mà đưa ngay công nghệ khai thác cơ giới hóa tổng hợp và công suất mỏ 5 triệu tấn/năm bằng 2 lò chợ cơ giới hóa. Như vậy, sự phù hợp công nghệ chưa có luận cứ; Công suất lò chợ như vậy quá lớn, sự phức tạp của địa chất than đồng bằng sông Hồng khó đạt được.

* Mỏ Tiên Dung: Do báo cáo không có phần địa chất nên không biết lượng nước chảy vào mỏ như thế nào, độ bền vững đá vách vỉa ra sao. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết chung, than đồng bằng sông Hồng có đá vách vỉa mềm yếu và rất nhiều nước là điều kiện khó khăn để khai thác khí hóa than.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.