Mấy nét dân ca của đồng bào Thổ
Dân ca Thổ được hình thành bởi những đặc điểm về nguồn gốc, chủ yếu là mặt ngôn ngữ. Loại hình dân ca này luôn mang yếu tố phức hợp, có tính đặc thù, ít thấy phổ quát: Đó là loại hình dân ca vừa mang yếu tố tự thân, vừa mang yếu tố cội nguồn, giống như vay mượn, pha tạp, nhưng lại rất đặc trưng và hàm súc! Nếu các nhà folklore học rất hài lòng khi đến với đồng bào Thái, được nghe họ hát các làn điệu “nhuôn”, “xuối”, “khắp”, “òn”... một cách tự nhiên, không cầu kỳ về mặt tổ chức và địa điểm để cất lên tiếng hát... thì đối với dân tộc Thổ ngày nay, dân ca đã gần như quá khứ. Muốn nghe họ hát, ta phải khởi lên, phải yêu cầu các làn điệu cụ thể, hoặc phải tổ chức luyện tập trước, đi vào những chương trình cụ thể... mà chủ yếu vẫn là những người đã có tuổi mới biết hát hay, hát đúng. Trai gái dân tộc Thổ ngày nay rất ít người biết hát, hoặc quan tâm tới những làn điệu dân ca của chính dân tộc mình, mặc dầu dân ca Thổ cũng rất phong phú, giàu nhạc điệu, đậm chất trữ tình giao duyên...
Những làn điệu bước đầu mà chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu được, cũng không nằm ngoài một số làn điệu mà nhiều nhà nghiên cứu đã sưu tầm và nghiên cứu từ trước. Gần chục năm nay, việc sưu tầm văn hóa Thổ, nhất là về dân ca, dân nhạc, dân vũ, đã có nhiều khởi sắc, và đã có những con em của chính người Thổ làm việc này. Các làn điệu dân ca Thổ đã dần dần được sử dụng, phát triển, nâng cao cả về giai điệu và lời ca để phục vụ đời sống văn hóa mới, nhằm mục đích xây dựng và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc ở địa phương mình. Đó là tín hiệu thật đáng mừng! Sau đây là một số làn điệu dân ca quen thuộc đã và đang từng bước được khôi phục, phát triển:
Đu đu điềng điềng. Điệu hát này chỉ dành cho phụ nữ hát riêng lẻ trong gia đình, không mang tính tập thể và không hát ở chỗ đông người. Thường là các bà, các mẹ, các chị, các em gái hát để ru cháu, ru con, ru em bé ngủ... Theo thang âm đô-rê-fa-sol-la. Điệu “đu đu điềng điềng”gần giống với những bài hát ru em bé ngủ của người Thái, nhưng khi hát, giọng điệu luyến láy ít hơn, độ ngân nga ngắn hơn và có pha thêm các làn điệu khác rất tự nhiên. Có thể nói, “đu đu điềng điềng”là thể dân ca ở giữa ca dao và đồng dao. Tuy nhiên, nếu chú ý nghe một cách kín đáo, không lộ diện và lộ ý định sưu tầm hoặc tìm hiểu, ta sẽ thấy người hát “đu đu điềng điềng”có rất nhiều sáng tạo từ chất giọng cho đến sự pha tạp trong cách vận dụng thêm các làn điệu dân ca khác vào làn điệu “đu đu điềng điềng”đang hát...
Tập tình tập tang. Điệu hát này chủ yếu dành cho các nam nữ thanh niên là chính. Họ thường hát một mình trên nương rãy (giống như “xuối” của người Thái), để cho khuây khỏa; hoặc hát cho vui cửa vui nhà vào những dịp, những ngày trời mưa, giá rét... không đi làm việc được. Lúc họ hát điệu “tập tình tập tang” một mình ở nhà thì nghe gần giống như điệu “khắp òn” của người Tày Thanh. Thang âm làn điệu dân ca này chủ yếu cũng là đồ-rê-fa-sol-la.
“Tập tình tập tang” còn được sử dụng như một làn điệu ru em bé ngủ. Đây là cách sáng tạo của người hát, tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, bài “ru ún”, có những câu:
Tiếng Thổ:
Tập tình, tập tang
Ún téo tang cho chí bang khiêng
Ún tập biệng cho chí ngâm bưa
Ún tày trưa cho chí cáy khợm
Ún ăn mớm cho chí ăn choi...
Tạm dịch:
Tập tình tập tang
Em trèo cầu thang cho chị mang giỏ
Em lót lá cho chị ngâm bột
Em ngủ trưa cho chị dậy sớm
Em ăn mớm cho chị ăn nhai...
...........................................
Với làn điệu ru em này, ta hiểu là đã có sự sáng tạo, không phải chỉ riêng cách nói lái độc đáo ( Em ngủ trưa cho chị dậy sớm/ Em ăn mớm cho chị ăn nhai...), mà là từ một điệu hát chỉ để khuây khỏa nỗi buồn, chuyển sang mục đích là ru cho em bé ngủ. Người hát lúc này đã có một người nghe trực tiếp ( là em bé), nhưng vì đối tượng nghe quá bé, cho nên người hát phải sáng tạo cách nói sao cho vừa khiến em bé ngủ lại vừa nói được nỗi lòng và tâm sự của chính mình trong công việc phải làm ở nhà một mình với em bé, như: mang giỏ, lót lá ngâm bột; dậy sớm, nhai cơm mớm cho em bé ăn v.v... Toàn là những công việc vụn vặt mà thường xuyên. Lời hát ru em đã thể hiện được cốt lõi của “tập tình tập tang” là tự động viên mình để cho công việc ở nhà với em bé không bị tẻ nhạt, buồn chán (làn điệu này có vài nơi nói khác nhau: có nơi nói là “tập tĩnh tập tang”, có nơi lại nói là “chập chĩnh chập chang”... Nhưng khi họ hát thì đều giống hệt nhau).
Dạ ời. Là một điệu dân ca rất đặc trưng của dân tộc Thổ. Khác với hai làn điệu đã kể trên, “dạ ời” được sử dụng để hát giao duyên, có tính chất như hát ghẹo, hát đối đáp của người Việt ở miền xuôi (vùng Nghệ An chẳng hạn) với nhiều người cùng hát và chia phe để hát. “Dạ ời” được hát vào những dịp như: đêm trăng sáng, trai gái trong làng tụ tập để gặp gỡ, giao duyên, hát đối nhau cho vui; hát trong các dịp lễ hội, đám cưới, mừng nhà mới (ở những trường hợp này thường có kèn, chiêng, trống... đệm theo rất vui); hát trong các dịp đi chợ phiên, hoặc khi có các bạn trẻ từ nơi khác đến làng nghỉ lại qua đêm... Nghĩa là chỉ hát vào những dịp vui vẻ, chủ yếu là trai gái, nhưng các ông các bà, các anh chị cũng nhiều khi hát “dạ ời” để góp vui, và thường thì họ hát chủ đạo, bởi họ có nhiều kinh nghiệm hơn và có chất giọng hay hơn. Hát “dạ ời” (có nơi gọi là “dạo ời”) là cách hát sử dụng giai điệu mượt mà, thiết tha, luyến láy... Bằng chính giọng hát “thiên phú” của từng người, tạo nên nét lôi cuốn, sự chú ý và sự đồng cảm, mến phục... dẫn tới có cảm tình rồi yêu nhau thực sự! Cách hát “dạ ời” như sau: Trai gái thường chia đôi hai bên nam - nữ để hát. Người có chất giọng hay nhất thường được “bên chủ” phân công hát trước. Câu hát luôn theo thể lục bát, ở dạng chào hỏi. Ví dụ: hát “dạ ời” khi có khách xa là con gái, con trai đến làng:
Bên chủ hát:
- Chào eng (anh), chào chí (chị) tàng (đường) xa
Viềng (về) thăm làng ún (em) thiết tha vô cùng...
Bên chủ hát xong thì bên khách hát đối lại:
- Chào eng (anh), chào chí (chị) làng nhà
Có lời chào hỏi, xật (thật) là cám ơn...
Cứ thế, cuộc hát phát triển lên mãi, từ chào hỏi đến các đích khác của đôi bên trai - gái. Hát “dạ ời” ít nhất mỗi bên cũng phải có từ ba người trở lên. Cuộc hát đối diễn ra theo trình tự tự do, người này hát, người kia không đối lại được thì người khác phải đối thay vì danh dự của “phe” mình, dứt khoát không chịu thua... Bởi thế mà cuộc hát “dạ ời” có khi kéo dài suốt đêm. Những cuộc hát đối suốt đêm như vậy, nếu chỉ diễn ra ở một nơi và chỉ có trai gái với nhau, thường liên quan đến tục “ngủ mái”. “Ngủ mái” - theo ông Trương Thanh Hải, cán bộ chuyên trách văn hóa xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) - là cách gọi một cuộc hát dạ ời thâu đêm của trai chưa vợ, gái chưa chồng, quây quần trên một ngôi nhà sàn rộng, có sự chuẩn bị chu đáo, có mục đích rõ ràng, mà ngày nay rất khó tổ chức lại được!
Ngày trước,trong các làng người Thổ, hát “dạ ời - ngủ mái” giống như một nhu cầu tự nhiên của trai gái, không thể thiếu được! Sự sáng tạo trong cách hát “dạ ời” chủ yếu là sự sáng tạo lời ca, giọng ca, nhất là sự luyến láy để đưa nội dung chủ yếu của lời ca vào giữa trái tim của “đối tác” tham gia hát.
Ngày nay, để khôi phục cách hát “dạ ời” truyền thống của dân tộc Thổ là việc làm rất khó khăn và khá tốn kém. Nhưng khó mà làm được mới là cố gắng, nếu không, “dạ ời” sẽ mất hẳn!
Ta ta tún. Là điệu hát dành cho mẹ nựng con, chị nựng em bé. “Ta ta tún” thường dựa vào những lời ca dí dỏm, ngộ nghĩnh để tạo nên những phút vui đùa với em bé trước khi nó ngủ. Nhạc điệu của “ta ta tún” đơn giản, không có giới hạn về thời gian, nên bài hát ngắn hay dài tùy thuộc vào em bé: Em bé chưa ngủ, hát tiếp; em bé ngủ rồi thì dừng lại! Người hát “ta ta tún” thường chú ý đến nhịp điệu, theo kiểu hát nói, dựa vào lời ca bốn chữ có vần (thường là chữ thứ tư của câu đầu vần với chữ thứ hai của câu tiếp theo... cứ thế, tiếp nỗi mãi), nhấn giọng vào nhịp mạnh, kết hợp làm một số động tác cần thiết để em bé thích thú mà cười vui trước khi ngủ. Ví dụ, một bài “ta ta tún” rất điển hình và phổ biến trong các làng người Thổ ở huyện Quỳ Hợp như sau:
Con ún pe pông
Con rông pe pái
Con mái lợp nhà
Kẻ Khà tô cơm
Con đẹt chưm chơm...
Trong năm câu thơ trên, trừ bốn câu đầu có vần theo trình tự: pông - rông; pái - mái; nhà - khà... Đến câu thứ năm thì “chơm” đã không còn ở vị trí vần theo trình tự nữa, mà được đẩy lên ở vị trí thứ tư: cơm - chơm; đó là cách tạo cao trào, buộc em bé phải cười trước khi chìm vào giấc ngủ (vì đa số trẻ em, khi buồn ngủ thường hay quấy khóc)! Về cách hát, thường là chân đưa nôi, hoặc vỗ vỗ hai bàn tay theo nhịp hát nhấn giọng khi cao - khi thấp, hay có chữ “là” đệm ở giữa (như: Con đẹt (là) chưm chơm...), chữ “là” như một từ đệm theo, hay như một dấu cách tạo nhấn, làm cho em bé chú ý người đang hát mà thôi, không phải kết cấu chính thức trong câu thơ! Có thể nói, “ta ta tún” (có thang âm: rê-fa-sol-la-đô), là điệu hát rất đặc trưng của người Thổ. Ngày nay, thảng hoặc, khi có dịp đến các làng của đồng bào dân tộc Thổ, chúng ta vẫn còn được nghe các em gái nựng em mình trước khi đưa nôi bằng chính làn điệu như đã nói ở trên.
Đồng dao. Cũng giống như các dân tộc khác, nhất là người Thái và người Việt sống gần gũi bên cạnh, đồng bào Thổ đã sáng tạo nhiều bài đồng dao rất hay, đặc sắc. Phương pháp sáng tác cũng dựa trên nguyên tắc: vui nhộn, dễ hát, dễ nghe, đơn giản, có tính “nhảy cóc”, rất phù hợp với tâm lý của trẻ con. Ví dụ: bài đồng dao rất phổ biến ở các xã Tam Hợp, Thọ Hợp, Nghĩa Xuân (đều thuộc huyện Quỳ Hợp). Bài “Khai khai rế”, nguyên văn tiếng Thổ:
Khai khai rế
Cô kế đổi lêng
Thành phủ tá lêng
Đổi lêng cho chắng
Nấp cửa nha vắng
Cho mế bổ vang
Cách đó cách giang
Mụ cái ti ngược
Ông tứa theo khâu
Rù rì nhập chặc
Nhập chặc, nhập chặc... rế...
Trong bài “Khai khai rế”nguyên văn tiếng Thổ trên, ta thấy rõ tính đồng dao rất đặc trưng của người Thổ. Nghĩa là cũng thể đồng dao, nhưng sự biến đổi thường ở câu cuối cùng. Những bài đồng dao như trên thường chỉ trẻ con hát chơi khi chăn trâu, khi chơi sáng trăng ở giữa làng. Chúng hát để trêu ghẹo nhau, có khi dăm sáu đứa cùng hát, cuối cùng chúng reo lên, chạy tóa ra hoặc chụm đầu lại. Cái reo cuối cùng ấy đã thêm ra một chữ “rế” như ta thấy ở ví dụ trên.
Đồng dao Thổ cho ta thấy tính hiếu động, đầu óc khoáng đạt và hài hước của một tộc người có nguồn gốc đa dạng về mặt văn hóa.
Ngoài các làn điệu chủ yếu như đã nêu ở trên, dân tộc Thổ còn có nhiều điệu hát biểu hiện một tâm hồn người Thổ giàu cảm xúc, và mang một sắc thái tình cảm riêng biệt mà chỉ dân tộc Thổ mới có, mới cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của các làn điệu dân ca do chính họ sáng tạo nên từ trong cuộc sống, lao động, đấu tranh... để sinh tồn và phát triển. Cần phải có thời gian và sự gắn bó mật thiết hơn nữa với đồng bào, mới mong tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này...
*
* *
Ngày xưa, người Thổ cũng ở nhà sàn là chủ yếu. Mọi cuộc hát đối giao duyên đều diễn ra ở trên nhà sàn. Nhà sàn nay không còn nữa, đi vào một làng của người Thổ ngày nay, ta thấy không khác gì một làng của người Việt... Việc khôi phục các làn điệu dân ca Thổ phải theo hướng nào để đồng bào tự giác sinh hoạt và tự giác hát hò như xưa, chứ không phải chỉ dựa vào vài ba tiết mục văn nghệ hoặc chạy theo phong trào thi đua là chính. Lớp già, có tuổi, dần dần hết đi, lớp trẻ sẽ làm gì để giữ gìn được bản sắc văn hóa của dân tộc mình, mà cơ bản là những nét đẹp của phong tục - tập quán và các làn điệu dân ca đã làm nên tâm hồn người Thổ từ rất lâu đời.
Tục ngữ của người Thổ có câu: “Của được là đất; của mất là vàng”. Chưa dám nói người Thổ bây giờ đã mất, hay sắp mất đi cái gì trong lĩnh vực dân ca, nhưng chắc chắn cái đó là vàng! Vấn đề là ở chỗ, phải định ra phương thức cụ thể như thế nào trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành, để bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc Thổ ngày càng phát triển lên mãi!
Nguồn: hoidantochoc.org.vn (28/12/06)








