Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 29/11/2006 23:13 (GMT+7)

Mấy bài học lớn từ cuộc đời một người thầy

Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương so với các trường thành viên khác của Đại học Đông Dương - như Y khoa, Luật và Pháp chính... - thì thành lập muộn hơn (1917). Nhưng đã đào tạo được qua các khóa nhiều giáo sư trung học nổi tiếng, cũng là những nhà văn lớn của nước ta. Có thể kể tên một số người tiêu biểu như Lê Thước, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Tôn Quang Phiệt, Ca Văn Thỉnh, Phạm Thiều, Nguyễn Khánh Toàn v.v... và giáo sư Nguyễn Lân của chúng ta cũng đứng trong đội ngũ những nhà giáo quang vinh đó.

Tìm hiểu về trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, có một điều kỳ lạ khi nói về chất lượng đào tạo. Đối với hầu hết các khóa của trường, điều kiện nhập học là có bằng Cao đẳng tiểu học (Thành chung) - về hình thức là tương đương với bằng Trung học cơ sở ngày nay - mãi tới những khóa sau mới nhận đặc cách một số người có bằng Tú tài (bản xứ hay Tú tài “Tây”, vào thẳng năm thứ 2, nhưng ít năm sau đó chỉ vào năm thứ 1, để tới thời gian chiến tranh thế giới 2 (1939 - 1945) trường đã phải đóng cửa mà nguồn giáo sư từ Pháp sang không còn vì chiến sự, nên chính quyền thuộc địa phải tuyển người có bằng Tú tài (lúc này không còn Tú tài bản xứ nữa, mà chỉ là Tú tài Pháp, hoàn toàn học theo chương trình đào tạo và thể lệ thi cử như bên Pháp) vào dạy các trường Cao đẳng tiểu học.

Giáo sư Nguyễn Lân vào trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương năm 1929 và ra trường năm 1932, sau 3 năm cần cù học tập. Việc ông chọn nghề dạy học là mục tiêu và lý tưởng phấn đấu suốt đời được xác định từ rất sớm. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, tấm gương mô phạm của chính thầy giáo của mình là giáo sư Dương Quảng Hàm - cũng là cựu sinh viên Cao đẳng Sư phạm Đông Dương - đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn và lý tưởng của anh học sinh nghèo. Sau này, trong hồi ký đời mình, Giáo sư Nguyễn Lân đã viết: “... Người thầy có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tri thức, tình cảm và ý chí của tôi là cụ Dương Quảng Hàm, một Giáo sư uyên bác và mô phạm về mọi mặt. Học cụ, tôi vẫn tự nhủ là sau này, phải cố gắng theo khuôn mẫu của cụ để trở thành một nhà giáo tiêu biểu như cụ” ( Vinh quang nghề Thầy,Nxb Giáo dục, H, 2004). Và thực tế sau đó cho thấy, anh học sinh Nguyễn Lân đã thực hiện đúng và xuất sắc lời tự hứa với mình, quyết tâm phấn đấu đi theo con đường của thầy. Cũng theo Hồi ký trên, năm 1989, khi được phong danh hiệu cao quý “Nhà giáo nhân dân” (trong đợt 1), Giáo sư Nguyễn Lân đã cảm kích: “Đọc một bài thơ về Tình nặng nghĩa sâu, trong đó về cụ Hàm tôi đã nói:

Trường Bưởi noi gương cụ giáo Hàm

Một nhà học giả thực phi phàm

Làu thông Âu, Á, say nghiên cứu

Ham đọc sử, văn, lợi chẳng ham!”.

Nhân nói về Giáo sư Dương Quảng Hàm, tôi còn nhớ một kỷ niệm là năm 1944, khi tôi đang học lớp triết học văn chương ở trường Khải Định (Huế), vào một giờ Việt văn (mỗi tuần một giờ), Giáo sư Nguyễn Lân đã dành gần trọn giờ để giới thiệu công trình Việt Nam văn học sử yếucủa thầy giáo cũ với tất cả sự vui mừng và trân trọng.

Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Nguyễn Lân trước sau trọn vẹn là cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo, từ khi ra trường (1932) cho đến khi về nghỉ hưu (1971), ông luôn luôn là người trực tiếp làm công tác giảng dạy, ở trường tư cũng như trường công, hết ngoài Bắc đến miền Trung, từ lớp truyền bá Quốc ngữ đến Trung học, rồi Đại học, trong kháng chiến gian lao cũng như khi hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, lúc nào ông cũng hăng hái, nhiệt tình năng động, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao nhất, tất cả vì quyền lợi học tập của học sinh thân yêu.

Gắn liền với sự nghiệp giáo dục là sự đóng góp phong phú của Giáo sư Nguyễn Lân về các tài liệu học tập cho học sinh, trong số đó phải kể tới những cuốn sách công cụ như Muốn đúng chính tả, Từ điển chính tả phổ thông...Riêng đối với tôi là người Nghệ Tĩnh phân biệt hai dấu “hỏi, ngã” không rành, viết hay lầm hai dấu đó thì cuốn Mẹo dùng hỏi ngãcủa ông được phổ biến từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 là một cẩm nang vô cùng quý, nhờ nắm được các kinh nghiệm ông đã tổng kết dưới một hình thức đơn giản, dễ nhớ mà chỉ sau một thời gian ngắn tôi đã viết đúng hai dấu đó.

Một điểm nữa cùng cần được nêu lên là theo dõi các sách báo, công trình biên soạn của Giáo sư Nguyễn Lân, từ Ngữ pháp Việt Nam(lớp 3 đến lớp 7), Luân lý lớp 6 phổ thông và lớp 7 phổ thôngđến Viết thế nào cho đúng, Một trăm mẩu chuyện cổ Đông - Tây, Tôi yêu tiếng Việt...cấp học sinh nào cần là ông sẵn sàng đóng góp. Thiết tưởng đó là một bài học lớn về tinh thần phục vụ vô điều kiện, toàn tâm toàn ý phục vụ học sinh của một nhà giáo chân chính.

Trong cuộc đời hoạt động khoa học giáo dục của Giáo sư Nguyễn Lân có một nét tôi cũng vô cùng tâm đắc. Đó là sự gắn bó giáo dục với văn nghệ, dùng văn nghệ để chuyển tải nội dung giáo dục thêm sâu sắc, nhuần nhuyễn. Chúng ta đều biết tới cuốn tiểu thuyết giáo dục Cậu bé nhà quêxuất bản năm 1925 và từ năm 1934 được công nhận là sách giáo khoa cho các trường Pháp - Việty, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường tiểu học. Nhắc đến cuốn sách này, tôi muốn nhắc tới hai kỳ niệm, một của thời nhỏ là nhờ đọc nhiều lần mà tôi đã thuộc lòng nhiều đoạn, tới nay đã hơn 60 năm trôi qua mà tôi vẫn có thể đọc trầm một số đoạn. Câu chuyện về cuộc đời một em bé nông thôn nhà nghèo, mẹ mất sớm, cha bị tù đày với tất cả những éo le, đau khổ đã cuốn hút tôi. Đặc biệt hình ảnh cụ đồ Cự dạy học ở một vùng nông thôn miền Bắc, hình ảnh cụ nghè Nhân trong Cậu bé nhà quêngay từ rất sớm đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn non trẻ của tôi, rồi sau đó là các cụ đồ trong Lều chõngcủa Ngô Tất Tố, Bút nghiêncủa Chu Thiên chắc hẳn đã góp phần bồi dưỡng và củng cố trong tôi lòng kính trọng và cảm phục sâu sắc đối với người thầy, để rồi từ những ngày đầu sau Cách mạng thành công, đã quyết định chọn nghề đó làm lý tưởng sống và phục vụ suốt đời của mình. Kỷ niệm thứ hai, đó là sau ngày tiếp quản Thủ đô (10-10-1954), tôi đã về Hà Nội học Đại học Sư phạm Văn khoa, tình cờ đã “gặp lại người bạn thơ ấu thủa nào”, khi mua được trong mớ sách cũ ở một góc đường phố Hà Nội cuốn Cậu bè nhà quê, và tôi đã trân trọng mang tặng Thầy làm cho Thầy rất vui.

Sau khi lên trường Trung học, tôi vẫn tìm đọc các tác phẩm của Thầy. Về lịch sử, tôi đọc Những trang sử vẻ vangvới một niềm hứng thú đặc biệt. Tiếp đến là Nguyễn Trường Tộ,về văn học, đó là Khói hương, Ngược dòng, Hai ngả.Về sau tôi đã nhận ra một điều - mà điều này đối với tôi là một phát hiện - đó là các tác phẩm của Giáo sư Nguyễn Lân đều có tính khai phá, dự báo bước phát triển sau đó của của văn hóa nước nhà. Ông đã tỏ ra nhạy cảm, sớm nắm bắt được đề tài một cách sâu sát để rồi mạnh dạn đi vào vấn đề. Về lịch sử, trường hợp cuốn Nguyễn Trường Tộxuất bản năm 1941, sau đó một năm lại được tái bản là khá tiêu biểu. Cho đến lúc đó, có thể khẳng định chưa có một công trình chuyên khảo nào về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Trường Tộ, một vài bài viết sơ lược trên các tạp chí NamPhong, Tri Tân...Việc nhìn nhận, đánh giá nhân vật lịch sử này vẫn chưa thống nhất. Thế mà Giáo sư Nguyễn Lân đã đặt vấn đề nghiên cứu, rồi xuất bản sách để đến gần hai mươi năm sau mới có nhóm Đặng Huy Vận - Chương Thâu tiếp bước với cuốn Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX(1961).

Còn về văn học thì với cuốn tiểu thuyết mở đầu là Cậu bé nhà quê(1925) và cuối cùng là cuốn Hai ngả(1938) rồi bẵng đi một thời gian dài, xuyên qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ mới có Hồi ký giáo dục(1996), tác giả Nguyễn Lân đã xác định được một vị trí xứng đáng trên văn đàn. Hãy nêu một lời đánh giá chí tình của một cây bút nữ là Lê Thị Đức Hạnh: “Xuất phát từ lòng yêu nước, yêu văn hóa dân tộc, yêu tiếng mẹ đẻ, ngót 70 năm cầm bút, Từ Ngọc Nguyễn Lân... còn là nhà văn đã đem lại cho văn học Việt nam trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX mấy tác phẩm có giá... Ông xứng đáng, và cần được có tên trên những trang văn học sử Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám” ( Những đóng góp về phương diện tiểu thuyết của Từ Ngọc Nguyễn Lân, Vinh quang nghề thầy,Sdd).

Tính khai phá, giá trị đón đầu trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nguyễn Lân còn thể hiện rõ rệt trong việc biên soạn các công trình về giáo dục học và đặc biệt về từ điển, sự đóng góp trên hai lĩnh vực này của ông là rất to lớn, có thể xem ông như là một người sáng lập và xây dựng ngành giáo dục học và là một nhà biên soạn từ điển lớn của nước ta trong suốt những năm qua.

Trên cơ sở những đóng góp và thành tựu về nhiều mặt như vậy, Giáo sư Nguyễn Lân thật sự xứng đáng với lòng tri ân ngưỡng mộ của các thế hệ học sinh - sinh viên, cũng như sự tôn vinh của mọi người. Những bài học lớn rút từ cuộc đời hoạt động giáo dục - văn hóa của Giáo sư Nguyễn Lân mãi có giá trị và tiếp tục phát huy hơn bao giờ hết ngày nay.

Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay , số 263, tháng 7/2006.

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.