Mạn đàm về chín cặp tác dụng trái nhau của vị hoàng kì
1. Phát hãn và chỉ hãn – Người thể trạng dương hư thường có chứng tự ra mồ hôi, đó là vì biểu hư mà tấu lý không kín đáo; dùng Hoàng kỳ làm cho vệ phần bền chắc mà liễm mồ hôi. Chứng Thương hàn dùng thuốc phát biểu mà bệnh tà mồ hôi không ra, đó là do lý hư mà chính khí ở trong thiếu hụt, dùng Hoàng kỳ có thể thêm tân (dịch) để giúp cho ra mồ hôi. Mồ hôi là tân dịch từ Phế mà tuyên phát ra. Hoàng kỳ ích khí bổ Phế, cho nên vừa có công dụng phát hãn, vừa có tác dụng chỉ hãn. Nếu thể trạng Phế hư mà thường tự ra mồ hôi, có thể linh hoạt sử dụng các phương Mẫu lệ tán, Hoàng kỳ tán – Trường hợp ngoại cảm do khí hư, nguồn mồ hôi thiếu không đủ để phát hãn, có thể chọn dùng Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang.
2. Vừa thông đại tiện, vừa chống ỉa chảy Hoàng kỳ tính vị cam ôn bổ khí, vào hai kinh Phế Tỳ. Tỳ mạnh, thăng thanh tốt thì ngưng ỉa chảy. Phế khí dồi dào, có khả năng túc giáng thì phủ khí sẽ thông. Ví dụ: do Phế Tỳ khí hư mà ỉa chảy có thể chọn dùng Thăng dương thang. Trường hợp tiện bí do khí hư có thể dùng Cục phương Hoàng kỳ thang.
3. Vừa lợi niệu, vừa co thắt, bài tiết tiểu tiện – Phế Tỳ khí hư, làm mất chức năng trị tiết, bàng quang co thắt yếu đi, điều trị nên dùng Bổ trung ích khí thang gia ích trí nhân, Ngũ vị tử. Trọng dụng Hoàng kỳ để nâng cái khí hạ hãm, khôi phục năng lực chuyển vận, thăng giáng thì tác dụng co thắt của bàng quang sẽ tăng lên, tự nhiên khống chế được tiểu tiện. Mặt khác, Trung tiêu khí hư giảm sút công năng thăng thanh vận chuyển, có thể dẫn đến khí hoá ở hạ tiêu bất cập gây nên bí tiểu tiện; Điều trị vừa phải thăng thanh giáng trọc, vừa phải ôn thận, chọn dùng phương Bổ Trung ích khí thang, trọng dụng Hoàng kỳ và gia Nhục quế, Thông thảo, một vị thăng, một vị giáng, khí hoá lưu thông thì tiểu tiện cũng được thông.
4. Vừa hoạt huyết lại vừa chỉ huyết (sinh huyết) – khí và huyết quan hệ rất chặt chẽ; nếu như do khí hư thì không có sức để quản lí huyết, có thể dẫn đến huyết ứ; điều trị nên ích khí hoạt huyết chọn dùng phương Bổ dương hoàn ngữ thang. Khí hư thì huyết mất đi sự thông nhiếp mà đi bừa gây nên thổ, nục, tiện huyết, niệu huyết và thai lậu... Điều trị nên ích khí nhiếp huyết, chọn dùng các phương Đương qui bổ huyết thang, Đương qui thang.
5. Vừa tăng huyết áp vừa giáng huyết áp – khí hư thì tâm lực giảm sút làm cho lượng xuất huyết cũng ít đi, không đủ để cung cấp huyết cho não và tay chân, mà xuất hiện hàng loạt chứng trạng do khí hư, thanh dương không tăng lên, gây nên huyết áp thấp, điều trị nên ích khí thăng dương. Chọn dùng các phương Thăng hãm thang: Bổ Trung ích khí thang. Mặt khác, Hoàng kỳ còn có thể tăng cường sức co bóp của cơ tim, khiến cho lượng chuyển vận tăng cường và có thể trực tiếp làm giãn huyết quản cho nên Hoàng kỳ còn có công năng giáng áp – Trường hợp cao huyết áp sau chứng trúng phong bán thân bất toại, điều trị nên bổ khí hoạt huyết, có thể chọn dùng Bổ dương hoàn ngũ thang gia vị.
6. Khư phong và dẹp phong – Sách “Kim quĩ” chữa chứng huyết tý mạch âm dương đều vi như chứng Phong tý dùng bài Quế chi ngũ vật thang. Chữa ngoại cảm phong thấp thể biểu hư, dùng Phong kỷ Hoàng kỳ thang: Cả đến sách “Thế y đắc hiệu phương” chữa ngoại cảm tự ra mồ hôi thể khí hư, dùng bài Ngọc bình phong tán... Trong bài thuốc dùng Hoàng kỳ liều cao để ích khí cố biểu mà chống lại phong tà. Ngoài ra những trường hợp “Doanh khí hư thì bất nhân; vệ khí hư thì chân tay không vận dụng được, doanh vệ đều hư thì vừa bất nhân vừa bất dụng”, điều trị nên ích khí dưỡng huyết để dồn bỏ phong, có thể chọn dùng Thần hiệu Hoàng kỳ thang gia giảm, đấy là những biện pháp dùng Hoàng kỳ để dẹp phong cho nên sách Y học Trung Trung tham tây lục có nói: Hoàng kỳ chủ trị được đại phong là vì nó dùng chung với thuốc phát biểu thì có thể trừ được ngoại phong, mà dùng chung với thuốc dưỡng âm thanh nhiệt lại có khả năng dập tắt được nội phong vậy.
7. Vừa thăng hãm lại vừa dẹp cơn suyễn – Tâm Phế khí hư, đại khí ở trong ngực (tức Tông Khí) không đủ thì đoản hơi, động làm thì suyễn gấp, mạch Trầm Tế Vi hoặc Kết Đại, thậm chí khí hãm đại tiểu tiện không điều hoà; như tỳ khí hạ hãm thanh dương không thăng lên, có thể thấy ỉa lỏng kéo dài và thoát giang, điều trị đều phải đại bổ khí; loại bệnh trên có thể dùng Thăng hãm thang gia giảm của Trương Tích Thuần; loại bệnh sau có thể dùng Thăng dương thang. Cả hai phương đều trọng dụng Hoàng kỳ để bổ khí, khí đã đủ thì suyễn dẹp yên mà hãm cũng thăng lên.
8. Tăng ấm với trừ nhiệt – người khí hư đoản hơi sợ lạnh, rất dễ cảm mạo. Hoàng kỳ bổ khí, khí đủ thì toàn thân ấm áp mà trừ được sợ lạnh. Nếu Tỳ vị khí hư, thăng giáng thất thường lại có thể sinh ra hư nhiệt. Điều trị nên đại bỏ khí, cho uống Bổ trung ích khí thang gia giảm, trọng dụng Hoàng kỳ thì nhiệt tự trừ, cho nên Đông Viên nói: “Hoàng kỳ là thuốc thánh để trừ táo nhiệt nóng ngoài da”.
9. Vừa tiêu tán vừa thu liễm – Hoàng kỳ vào hai kinh phế tỳ, rất khéo bổ khí và nâng đỡ chính khí, cho nên trong các phương Thác lý tiêu độc tán. Nội tiêu Hoàng kỳ thang đều trọng dụng Hoàng kỳ khiến cho chính khí dồi dào thì mụn nhọn có thể vỡ mủ tiêu sưng và mau liền miệng rất tốt.
Những dẫn chứng trên đây nói lên việc sử dụng Hoàng kỳ: đại tiện khó trở nên bài tiết dễ dàng, đại tiện lỏng có thể làm cho thành khuôn. Tiểu tiện rít thì làm cho thông lợi. Tiểu tiện nhiều thì làm cho bớt đi. Khí hãm thì nâng lên. Khí suyễn thì dẹp yên. Mình nóng có thể trừ – mình rét thì làm cho ấm. Huyết áp cao hay thấp thì có thể điều chỉnh được. Phong tà ở bên trong hay bên ngoài đều ứng dụng được cả. Ung nhọt loét vỡ có thể làm cho liễm cho tiêu. Muốn hoạt huyết hay chỉ huyết đều điều chỉnh từ một mối... Sở dĩ được như vậy là ở biện pháp xác đáng, khéo sử dụng Hoàng kỳ để bổ khí.
(Theo Lý Hạo Nhiên – Trường Giang y thoại)








