Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/04/2011 18:52 (GMT+7)

Luật pháp không thể không hội nhập thế giới

Bao người mang hộ chiếu Việt sống ở Đức bị Sở Ngoại kiều Đức làm tá hoả, khi cách tháng trước đột nhiên nhận được quyết định của Sở Ngoại kiều nơi cư trú, với nội dung: "Theo điều §13, điểm 2, Luật Quốc tịch Việt Nam mới (LQT), có hiệu lực từ ngày 1.7.2009, "người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam... thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam".

Điều đó không có nghĩa, khi mất quốc tịch Việt Nam, ngài sẽ được nhập quốc tịch Đức. Lúc đó, ngài sẽ trở thành người không quốc tịch và do mất quốc tịch Việt Nam, nên ngài cũng mất luôn giấy phép lưu trú gắn liền với hộ chiếu đó. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu ngài, tới Cơ quan đại diện Việt Nam đăng ký giữ quốc tịch, và trình Sở Ngoại kiều, hạn cuối cùng ngày 30.6.2011. Xin lưu ý ngài rằng, nếu hết thời hạn trên ngài vẫn không thực hiện, sẽ bị coi vi phạm quy định hành chính chiểu theo điều §98, đoạn 2, điểm 3, Luật lưu trú (AufenthG), và bị phạt tiền".

Nhận được công văn, ai nấy đều ngỡ ngàng, người hiểu biết thì ngờ ngợ nhận ra điều gì đó bất ổn ở Luật pháp Việt Nam, tại sao đang có hộ chiếu chính là giấy chứng nhận quốc tịch lại còn phải đăng ký giữ quốc tịch ? Còn người không màng đến thế sự, thời cuộc, thì tỏ ra không còn hiểu LQT Việt Nam muốn gì ở họ, họ phải bỏ công bỏ việc lên Sứ quán đăng ký, tới Sở ngoại kiều trình, gần thì cả 2 nơi mất 2 ngày, xa thì ba bốn ngày, thêm chi phí tầu xe đi lại, phí dịch vụ , thiệt hại hàng trăm Euro.

Nếu cứ theo đúng điều luật §13 trên, sẽ có chừng 100.000 người mang hộ chiếu Việt Nam định cư ở Đức phải đăng ký giữ quốc tịch, tổng chi phí ước không dưới 20 triệu Euro. Hậu hoạ trút xuống cả Đại sứ quán và Lãnh Sứ quán Việt Nam tại Đức tự dưng thêm việc, trả lời các cuộc điện thoại thắc mắc của bà con.

Rốt cuộc, Đại sứ quán và Lãnh sứ quán phải gửi công văn cho họ khẳng định, công dân Việt Nam có quốc tịch Việt Nam và chỉ mang hộ chiếu Việt Nam không có nghĩa vụ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, và bác quyết định của Sở Ngoại kiều, bằng cách dẫn Điều 18, Nghị định 78/2009/NĐ-CP ngày 22/09/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 13/11/2008 (NĐQT), có nội dung ngược hẳn LQT: "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam... mà không có Hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam", để được cấp hộ chiếu.

Để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp (HP), trên thế giới hiện có 3/4 số quốc gia có Toà án hiến pháp. Ở nước ta, việc giám sát và phán quyết vi phạm HP không được giao cho một cơ quan chuyên trách nào. Do vậy, thẩm quyền bảo vệ HP không được phân định trách nhiệm rõ ràng, dẫn tới, hiệu lực và hiệu quả bảo vệ HP không cao. Hầu hết các chuyên gia pháp lý đều nhận định, đã đến lúc, nước ta cần xây dựng một cơ chế bảo hiến theo đúng nghĩa của nó - Đó là Toà án Hiến pháp.

Nghị quyết Đại hội XI đã nhấn mạnh về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCH, nêu rõ: Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Đây được coi là cơ sở để thảo luận, nghiên cứu về việc xây dựng và thiết kế một mô hình toà án hiến pháp phù hợp với Việt Nam.

Thời hạn Sở Ngoại kiều đòi trình vẫn chưa đến, nên chưa rõ rắc rối cuả người Việt bởi Luật quốc tịch mới Việt Nam rốt cuộc sẽ giải quyết ra sao, nhưng từ thực tế hệ lụy Đức áp dụng LQT Việt Nam trên có thể rút ra những kết luận bổ ích về sự cần thiết và con đường cải cách bắt buộc để đưa nền pháp luật Việt Nam hội nhập với thế giới hiện đại.

Sở Ngoại kiều Đức đòi người Việt định cư ở Đức phải thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam, bởi đối với thể chế họ, luật pháp là luật pháp dù của Đức hay bất cứ quốc gia nào, nếu thuộc đối tượng nó điều chỉnh, thì phải thực thi vì tính tối thượng của luật pháp, chứ không phải lợi thì theo, không thì thôi. Không chỉ Luật quốc tịch Việt Nam, như Luật Hôn nhân Việt Nam chẳng hạn, hiện đang được Toà án Đức áp dụng khi xử ly hôn các cặp vợ chồng người Việt. Từ đó rút ra kết luận: Luật pháp Việt Nam không phải một ốc đảo mà là một bộ phận của thế giới, họ có quyền áp dụng, không phụ thuộc vào chúng ta.

Vấn đề tiếp theo, khi viện dẫn LQT Việt Nam, Sở Ngoại kiều Đức hiểu đó là một văn bản lập pháp, nghiã là do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất thông qua, tin tưởng  chính phủ lẫn công dân Việt Nam phải thực hiện, họ không mảy may quan tâm đến những văn bản chính phủ Việt Nam hướng dẫn thi hành luật, vốn ở nước họ chỉ có tác dụng trong nội bộ cơ quan hành pháp thực thi, không có tác dụng thay đổi các chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự ấn định trong văn bản lập pháp được người dân tự động thực hiện bằng không sẽ có chế tài, không cần đến hướng dẫn của chính phủ, ngoại trừ những điều luật trong văn bản đó có ghi rõ cho phép chính phủ làm vậy. Đó cũng chính là nguyên lý phổ quát về mối quan hệ giữa văn bản lập pháp và lập quy trong một nhà nước pháp trị.

Thực trạng ở ta khác, để bác bỏ đòi hỏi của họ, Đại sứ quán và Lãnh sứ quán ta lại phải dẫn văn bản lập quy của chính phủ NĐQT để phủ định văn bản lập pháp LQT của quốc hội mà Sở Ngoại kiều đã viện dẫn. Nghịch lý văn bản lập quy quyết định văn bản lập pháp ngược với nguyên lý phổ quát, rất xa lạ với nền pháp luật thế giới hiện đại, vốn tồn tại đã qúa lâu trong nền pháp luật nước ta; ở Nghị định trên được thể hiện bao quát ngay tại điều §1: "Nghị định này quy định chi tiết thi hành các điều §13, §19, §20, §22, §23, §24, §27, §28, §32, §34 và hướng dẫn thi hành một số điều khác của Luật Quốc tịch Việt Nam".

Như vậy đã mặc nhiên thừa nhận,  LQT có thể có nhiều cách thi hành, nhưng phải thi hành theo cách do chính phủ quy định tại NĐQT. Nói cách khác, cái mà người dân cần biết và phải tuân thủ không phải luật mà là chính phủ - Mâu thuẫn hoàn toàn với nguyên lý xã hội pháp quyền của thế giới hiện đại: người dân và cơ quan công quyền đều bình đẳng trước pháp luật.

Đối chiếu điều §26, điểm 3, LQT với điều §18, NĐQT, cho thấy điều §26 sai chỉ bởi đã đồng nhất khái niệm Người Việt (có quốc tịch Việt) định cư ở nước ngoài với khái niệm lưỡng tịch (vừa có quốc tịch nước ngoài vừa có quốc tịch Việt)!

Văn bản lập pháp ở ta không khác các nước, hầu như đều qua các công đoạn, rào cản cơ bản: soạn thảo, lấy ý kiến, các ủy ban quốc hội liên quan thẩm định, trong đó không thể thiếu Ủy ban Pháp luật, thông qua Quốc hội, chủ tịch/tổng thống ký lệnh công bố. 2 khái niệm, người Việt định cư ở nước ngoài và lưỡng tịch, vốn phổ quát thế giới, bị nhầm lẫn, nhưng lại dễ dàng lọt qua được tới 6 công đoạn, rào cản trên; thậm chí khi NĐQT ban hành cũng chính là lúc phát hiện được LQT sai, nhưng đã không hoặc không thể khắc phục, thực sự là tiếng chuông báo động về nghiệp vụ và công nghệ làm luật ở nước ta, đặt ra đòi hỏi phải nhanh chóng cải cách, tạo lập một công nghệ làm luật tự động, bảo đảm có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành luật mới bất cứ lúc nào cần, bởi luật pháp cũng như nhà nước dù tiến bộ đến mấy, sinh ra cũng chỉ là công cụ để phục dân, vì dân, của dân, chứ không phải ngược lại bị nó trói buộc bất chấp lợi ích.

Một công nghệ như vậy, ở các nước hiện đại, trước hết nó phải có khả năng tiếp nhận mọi phản ứng của các đối tượng bị điều chỉnh, xuất phát từ và nhằm trở lại vào lợi ích đối tượng đó; bởi chỉ đối tượng bị điều chỉnh mới có thể phát hiện được lợi ích mình bị xâm phạm, một khi luật có vấn đề, không nhà nước nào thay nổi họ. Như trường hợp LQT chắc chắn không thể không sửa đổi, nếu đại diện cho cộng đồng chừng 3 triệu người Việt ở nước ngoài được hỏi ý kiến. Tiếp theo, không thể thiếu Toà án Hiến pháp, bảo đảm cho cá nhân và pháp nhân được quyền đưa văn bản lập pháp bị cho là vi hiến ra toà đòi phán quyết, một khi cơ quan công quyền vì lý do nào đó không chịu xét đến. Chỉ khi văn bản lập pháp bảo đảm nguyên lý hợp hiến bằng chế tài như vậy mới có thể nói đến nhà nước pháp quyền, uy tín pháp lý của một quốc gia, xã hội có thực sự đồng thuận trên nền tảng hiến pháp hay không.

Ngoài điều §13 đã phân tích, nếu chiểu theo nguyên lý hợp hiến, điều §2 và §31 LQT đều trái với Hiến pháp ta cũng như các nước hiện đại, vốn coi mọi công dân đều bình đằng ngang nhau không phân biệt đối xử, khi điều §2, điểm 1 LQT quy định, Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch, nhưng lại ngoại trừ trường hợp quy định tại điều §31 cho phép tước quốc tịch Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, và người Việt gốc ngoại quốc cư trú tại Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng... Nghĩa là cùng một hành vi gây phương hại nghiêm trọng, nhưng phân biệt đối xử, nếu là công dân huyết thống Việt và ở trong nước thì không sao, còn đã ra nước ngoài sống, hay gốc nước ngoài là bị tuyên phạt.

Về mặt đạo đức có thể so sánh với gia đình, nếu là con đẻ sống cùng gia đình thì không sao, nhưng nếu ra khỏi nhà phạm gia huy thì sẽ bị từ bỏ, và nếu là con nuôi thì đuổi ra khỏi nhà ! Có thể tham chiếu Luật quốc tịch Đức để rõ thêm. Điều luật tước quốc tịch chỉ áp dụng cho đối tượng chủ đích lừa đảo khi nhập quốc tịch nay mới bị phát hiện, hoặc đối với dạng 2 quốc tịch vi phạm luật quốc tịch họ. Ngay cả 2 trường hợp đó, vẫn được miễn trừ, nếu tước quốc tịch trở thành vô quốc tịch - bản chất nhân đạo của luật, không nhằm đày đoạ con người.

Muốn hoàn thiện nền phát luật, không thể không cải cách văn bản luật hiện có. Nhưng cải cách sẽ không bao giờ xảy ra, nếu không luôn phát hiện khuyết tật bất cứ văn bản nào, vào bất cứ giai đoạn nào và ở bất kỳ cấp độ nào. Nếu coi quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thì nền luật pháp nước ta có được cải cách nhanh chóng cả về công nghệ làm luật lẫn lập toà án hiến pháp hay không, rốt cuộc hoàn toàn tùy thuộc trách nhiệm của quốc hội trước dân chúng đã tin cậy và ủy thác sinh mệnh chính trị của mình cho họ ! Không thể viện bất kỳ lỗi cơ chế nào, bởi cơ chế nào cũng từ cơ quan quyền lực cao nhất sinh ra, không bỗng dưng từ trên trời rơi xuống.

 

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.