Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 01/03/2011 18:45 (GMT+7)

Lợi ích kinh tế nào khi Việt Nam có giống cây trồng biến đổi gene?

Việt Nam có chủ trương đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp. Nhưng hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp, trong đó sản xuất nông sản chiếm 20% GDP (2009) và xuất khẩu nông sản là một trong những “lợi ích cốt lõi” của Việt Nam. Gạo, cà phê, điều, hạt tiêu, tôm, cá tra…là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem hàng tỷ USD về cho đất nước cho nên việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai cây biến đổi gene phải được nhìn thêm một góc cạnh khác ngoài khoa học kỹ thuật. Đó là góc cạnh kinh tế và thương mại. Đó là thị hiếu của khách hàng. Chúng ta cần phải biết khi sản xuất đại trà thì liệu khách hàng của Việt Nam có chấp nhận thức ăn biến đổi gene không?

Cứ giả sử 4-5 triệu tấn gạo của Việt Nam là "gạo biến đổi gene" thì liệu ta có bán được để thu vào 2.6 tỷ USD như năm 2009 không? Một ví cụ thể là vào năm 2006, Hoa Kỳ đã không xuất khẩu được gạo, mất 1,2 tỷ USD vì có sự hiện diện của giống lúa biến đổi gene. Cũng cần nhắc lại trước đây, vào năm 1999, ngô của Hoa Kỳ cũng đã bị thị trường Âu châu tẩy chay vì là ngô biến đổi gene (Hình 1). Hoặc thức ăn cho tôm cá của Việt Nam được nuôi bằng ngô, đậu tương biến đổi gene thì liệu khách hàng của chúng ta có bỏ ra 5 tỷ USD như năm 2010 để mua thủy sản Việt Nam không? Chúng ta nên nhớ đối với Hoa Kỳ mất 1.2 tỷ USD vì không xuất khẩu được gạo, hoặc ngay cả 5 tỷ USD vì không xuất khẩu được tôm cá thì đó là chuyện nhỏ vì lợi nhuận trong việc bán giống biến đổi gene và những phụ kiện công nghệ sinh học của Hoa Kỳ còn lớn hơn nhiều. Chỉ với một công ty Monsanto thôi, họ đã thu vào 17.1 tỷ USD qua kênh biến đổi gene vào năm 2007 (hạt giống 5 tỷ USD, thuốc diệt cỏ và thuốc BVTV 3.6 tỷ USD, các sản phẩm công nghệ sinh học khác 8.5 tỷ USD).

Khách hàng chính của nông thủy sản Việt Nam là EU và Nhật. Đây là 2 khách hàng cực kỳ khó tính, chống đối thức ăn biến đổi gene một cách mãnh liệt. Phát biểu của Ủy Ban Nông nghiệp Âu Châu về việc Hoa kỳ mất thị trường ngô ở EU vì thức ăn biến đổi gene (Về thị trường ngô ở EU, thị phần của Hoa Kỳ đã giảm một cách rõ rệt trong khi thị phần của các bạn hàng khác, đặc biệt Argenetina và Hungary, đã tăng một cách đáng kể. Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ USDA đã nhận định rằng việc mất thị phần (ngô) ở thị trường EU là kết quả từ những vấn đề liên quan đến công nghệ sinh học (http://ec.europa.eu/agriculture/publi/gmo/ch5.htm), và có hơn 100 hội đoàn phi chính phủ của EU đã ký tên vào một lá thư ngỏ gửi cho OXFAM  ngày 12/4/2010  để phản đối tổ chức này đưa ra bản báo cáo về hiệu quả cây biến đổi gene chỉ dựa vào kết quả tốt mà không nói đến kết quả xấu là những dẫn chứng có thật về sự chống đối mạnh mẽ thức ăn biến đổi gene của EU (www.gmwatch.org/). 

Tại Úc, cho đến nay chưa sản xuất được hạt giống biến đổi gene. Hầu hết các tiểu bang (ngoại trừ Queensland) đều ngăn cấm không cho phép trồng cây biến đổi gene (www.gmo-compass.org/eng/news/stories). Bang Queensland nơi được phép thử nghiệm, người ta nhận thấy vì phải phụ thuộc vào công ty nước ngoài về giống và những phụ kiện khác, nông dân đã không thu được nhiều lợi nhuận và việc cải thiện môi trường không diễn ra tốt đẹp như nhiều người tưởng. Chỉ có doanh nghiệp là lời to, nhất là các công ty hạt giống siêu quốc gia. Tuy vậy, giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Bộ Nông nghiệp của chính phủ Liên bang Úc cũng nhận thấy Úc sẽ mất 1.8 – 7 tỷ USD nếu không tự mình phát triển giống cây biến đổi gene để tham gia vào sự phát triển chung của thế giới. Vì lý do đó mà nay Chính phủ Liên bang Úc châu đã cho phép nghiên cứu và trồng thử cây biến đổi gene. Nhưng cũng chỉ thử nghiệm bó gọn trong 3 loại: cải dầu, bông vải và hoa cẩm chướng. Không có thứ nào trực tiếp làm thức ăn cả.

Tại Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã khẳng định cho đến nay đã có ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm ba giống cây chủ lực là ngô, đậu tương và bông vải; và Việt Nam sẽ có giống cây trồng biến đổi gene năm 2011 và đến 2013 sẽ sản xuất giống đại trà để trồng trên diện rộng (Theo Tuoitre Online ngày 11/12/2010). Như vậy từ năm 2013 xác xuất ngô và đậu tương biến đổi gene dùng cho thức ăn gia súc và thủy sản của Việt Nam là rất cao, nếu không nói là toàn bộ. Nếu là vậy thì mặt hàng thịt và tôm cá của Việt Nam cũng được xem là có hàm lượng biến đổi gene. Như vậy khi xuất khẩu, hàng Việt Nam phải dán nhãn có thức ăn biến đổi gene. Việt Nam tự mình tạo thêm một rào cản khác ngoài an toàn vệ sinh thực phẩm: đó là thức ăn biến đổi gene.

Để phát triển một cách bền vững các giống cây biến đổi gene nói trên, và giúp các  doanh nghiệp thủy sản Việt Nam không dính vào những khó khăn như vụ cá tra bị EU đưa vào sổ đỏ vào cuối năm 2010, Việt Nam cần phải tính đến mặt kinh tế khi bằng cách làm rõ những vấn đề sau:

1. Xác nhận xem khách hàng của ta, cụ thể là EU và Nhật, có chấp nhận mua tôm cá trong đó thức ăn là ngô và đậu tương biến đổi gene không?

2.  Nghiên cứu xem để biết giống cây trồng biến đổi gene của Việt Nam có thể cạnh tranh với giống của các công ty siêu quốc tế (ví dụ như AmGene, Geneetech, Monsanto... nơi đã dành hàng tỷ USD cho nghiên cứu) về chất lượng hạt giống, về giá hạt giống không? Kinh nghiệm của nhiều nước trồng cây biến đổi gene trên thế giới cho biết chỉ khi nào (Việt Nam) tự sản xuất được giống cây biến đổi gene thì khi đó mới thực sự giúp nông nghiệp và nông dân Việt Nam phát triển bền vững.

3. Nếu giao khoán cho ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm và sau đó (dĩ nhiên) được phép kinh doanh hạt giống thì xin điều tra kỹ về những thủ tục cực kỳ khó khăn trong việc mua hạt giống hoặc mua bản quyền giống từ các các công ty siêu quốc gia, để tìm ra giải pháp thích hợp có lợi cho nông dân và nông nghiệp Việt Nam.

Cho đến bây giờ không ai có thể bảo rằng thức ăn biến đổi gene là không an toàn cho nên đứng về mặt phát triển khoa học kỹ thuật, Việt Nam phải tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene. Chúng ta cần phải nghiên cứu các loại lúa chống mặn, chống lụt (gene Sub1) để đối phó với biến đổi khí hậu; các loại cây cố định đạm để đối phó với đất bạc màu, đất phèn, đất bị ô nhiễm… để bảo vệ môi trường; các loại cây có dinh dưỡng cao (tăng lượng  β carotene cho gạo, tăng lượng Oleic acid & Omega-3 cho  đậu nành) để  tăng dinh dưỡng cho thực phẩm; hoặc đánh giá cây biến đổi gene cho các loại nông sản quan trọng như lúa, ngô, đậu tương, bông vải và rau quả, cũng như chẩn đoán có hay không gene biến đổi trong nông sản hoặc thức ăn nhập khẩu như ngô, đậu tương, sữa, bơ, phó mát, khoai tây chiên… là những việc rất quan trọng mà Việt Nam cần phải làm ngay, vừa để theo kịp đà tiến bộ chung của thế giới, vừa sửa soạn cho đến khi giới tiêu thụ thế giới chấp nhận thức ăn biến đổi gene, thì Việt Nam cũng đã có sẵn cán bộ và các kỹ thuật công nghệ sinh học về giống, tạo giống và nhân nhanh giống biến đổi gene, phục vụ kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam, phát triển xuất khẩu.

Việc tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene là cần thiết song phải có lộ trình thích hợp, không nên vì lợi ích của một nhóm người rồi bị rơi vào cái bẫy của những công ty siêu quốc gia khi họ không xâm nhập được thị trường Âu châu và Nhật bản nay quay sang Việt Nam tìm kiếm thị trường mới. 

Để nông dân không phải trả giá quá cao…

GS. Võ Tòng Xuân

Ý kiến của TS Nguyễn Quốc Vọng trên đây là ý kiến đã được nghiên cứu kỹ. Hiện nay nước ta đang theo sau nhiều quốc gia khác trên thế giới, ngay cả sau Philippines và Thái Lan trong ứng dụng giống cây trồng có gene biến đổi (giống GM), mặc dù đã có nhiều cuộc trồng thử không chính thức giống bông vải Bt (có lẽ nhập từ Trung Quốc). Sở dĩ có sự chậm trễ này là vì các nhà xây dựng chính sách của ta, từ Bộ NN&PTNT, Bộ KH&CN, đến Bộ Tài nguyên & Môi trường đều rất đắn đo trước những ý kiến ủng hộ (có nhiều bằng chứng) và chống đối (thường dùng lý do giả tưởng, không có minh chứng rõ ràng). Tình trạng này cũng giống như ý kiến phản bác đi ô-tô vì căn cứ vào sự kiện vài tai nạn đã gặp mà kết luận là đi ô-tô sẽ hoặc có thể gặp tai nạn. Cuối cùng thì các chuyên của các Bộ ngành đều nhất trí với các nhà khoa học hoạt động trong ngành CNSH kiến nghị với Chính phủ chính thức công nhận cho nghiên cứu giống GM bằng một loạt các văn bản chính qui: Qui định về an toàn sinh học năm 2005 đến Nghị định số 69/2010/NĐ-CP năm 2010.

Hiện nay hầu như các giống GM được bán trên thế giới là giống do một số ít công ty đa quốc gia đã đầu tư hàng tỉ USD để nghiên cứu và sản xuất như Monsanto (Mỹ), DuPont (Mỹ), Syngeneta (Thụy Sĩ), Bayer (Đức). Đây là những công ty chuyên sản xuất dược phẩm, thuê những chuyên viên CNSH trả lương rất cao và đầu tư thiết bị rất đắt tiền, mua cả những công ty giống cây trồng để tạo giống GM. Ngoài gene chủ yếu muốn đưa vào giống mới (năng suất cao, kháng sâu bệnh) họ còn đưa thêm gene kháng một loại hóa chất khác mà họ muốn bán kèm với hạt giống, thí dụ gene kháng thuốc diệt cỏ Roundup. Cho nên khi nông dân trồng bắp Bt họ phải mua thuốc diệt cỏ Roundup để sử dụng. Ở nước ta, việc nghiên cứu giống GM vẫn còn phôi thai, chủ yếu mới chỉ tập trung tại một ít cơ sở khoa học có thiết bị tương đối hiện đại như Viện Công nghệ sinh học ở Hà Nội và Viện Lúa ĐBSCL. Nhưng tất cả các cơ sở vẫn phải nhờ nguồn gene biếu từ các công ty đa quốc gia, và phải tranh thủ phần lớn kinh phí nước ngoài. Kết quả đến nay chúng ta vẫn chưa tạo được giống GM mà người nông dân nghèo rất cần có để trồng như lúa chịu hạn, lúa chịu mặn, bắp chịu hạn…

Vì thế khi quyết định sử dụng giống GM, chúng ta cần lưu ý các đề nghị mà TS Nguyễn Quốc Vọng đã nêu, nhất là giống mà ta có thể tạo ra trong nước để nông dân nghèo không phải trả giá quá cao.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.