Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 19/05/2007 00:25 (GMT+7)

Lời giải cho bài toán hạ giá thành và nâng cao chất lượng trong chăn nuôi lợn: Đầu tư quy mô lớn

Việc chúng ta là thành viên WTO đặt ra yêu cầu mở rộng chăn nuôi quy mô lớn nếu không muốn nhường thị trường cho thịt nhập khẩu. Đã đến lúc Việt Nam phải có một chiến lược tổng thể phát triển vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc, chính sách hỗ trợ người chăn nuôi quy mô lớn.

Vài nét về ngành chăn nuôi lợn hiện nay

Hiện mỗi năm nước ta xuất chuồng khoảng 25 triệu con lợn. Tham gia vào hệ thống sản xuất lợn thịt gồm các trang trại nhà nước, tư nhân và trang trại thuộc các doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu cung cấp con giống. Các công ty nước ngoài hoạt động chăn nuôi lợn tại Việt Nam dưới hình thức gia công (CGF Pig), liên kết sản xuất với bà con nông dân (cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y, có nhân viên giám sát kỹ thuật và quản lý), bao tiêu sản phẩm. Lợn xuất chuồng, công ty bán ra thị trường, tự hạch toán lỗ lãi và dựa vào năng suất chăn nuôi của từng chuồng trại để trả công cho người nuôi gia công. Việt Nam hiện có hai công ty lớn đang hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi gia công là Charoen Pokphand (Thái Lan) và Japfa Comfeed (Inđônêxia).

Một trong những thành phần đang dần chiếm giữ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi lợn là các trang trại tư nhân. Nếu 10 năm trước, nước ta chưa có trang trại tư nhân quy mô vài trăm con, thì hiện đã có hàng trăm trang trại với quy mô 50 con lợn nái và 500 đầu lợn thương phẩm trở lên. Trại chăn nuôi Bắc Đẩu (Từ Sơn - Bắc Ninh) hiện có 200 đầu lợn nái và hàng ngàn con lợn thịt. Hợp tác xã chăn nuôi Cổ Đông với 1800 lợn nái và 24.200 con lợn thương phẩm. Trang trại của anh Nguyễn Văn Sơn ở xã ứng Hoè (Ninh Giang - Hải Dương) mỗi năm cung cấp cho thị trường 5.000 con lợn thịt...

Trong 10 năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, sản lượng lợn thương phẩm tăng cao, tỷ trọng thịt siêu nạc ngày càng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Chăn nuôi lợn đang chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá.

Vẫn khó trăm bề

Mặc dù đạt một số kết quả nhưng thực tế cho thấy mức sản xuất thịt lợn bình quân trên đầu người ở nước ta vẫn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý về mặt thú y tuy được cải thiện nhưng còn yếu kém, lại không đồng bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi chưa triệt để. Hệ thống nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn còn ít, công nghệ thô sơ. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, ở thị trường nội địa sức mua của dân thấp, không ổn định; hướng ra xuất khẩu thì gặp trở ngại về chất lượng. Trong khi đó thịt lợn cao cấp vẫn phải nhập khẩu.

Đầu năm 2006, giá thịt vẫn còn ở mức cao, nhưng sau khi một số địa phương xảy ra dịch lở mồm long móng (LMLM), giá lợn hơi liên tục tụt dốc, các cơ sở chăn nuôi đều thua lỗ. Nguyên nhân nào khiến giá thịt lợn luôn ở trạng thái bấp bênh như vậy? Lợn thịt là loại sản phẩm sống, không thể để tồn kho lâu. Đối với lợn siêu nạc, nếu trọng lượng xuất chuồng dưới 80 kg, người chăn nuôi sẽ lỗ, ngược lại đợi trên 100kg mới xuất chuồng thì sẽ bị “liệt” vào lợn loại. Vì vậy giai đoạn thích hợp nhất cho việc xuất chuồng là khi lợn đạt trọng lượng bình quân 80 - 90kg, việc tiêu thụ phải được giải quyết trong 15 - 20 ngày. Gặp khi giá xuống thấp, không thể ghìm lại để chờ giá lên, người chăn nuôi luôn bị động trước thương trường, càng không thể quyết định được giá bán.

Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp & PTNT) Nguyễn Đăng Vang:

Khuyến khích các mô hình chăn nuôi quy mô lớn

Để ngành chăn nuôi phát triển bền vững, Nhà nước cần khuyến khích mạnh hơn nữa các mô hình chăn nuôi trang trại lớn và đầu tư con giống tốt. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác khuyến nông nâng cao trình độ cho người chăn nuôi. Vừa qua, Chính phủ cũng đã có hàng loạt chính sách khuyến khích nông dân chăn nuôi quy mô lớn, trong đó đặc biệt quan tâm tới vấn đề vốn. Theo QĐ 304/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 13/3/2006, nông dân sẽ được vay vốn ngân hàng với lãi suất giảm 40% so với mức vay bình thường. Ngoài ra, Chính phủ còn hỗ trợ mở đường, kéo dây điện, xử lý môi trường cho những khu chăn nuôi tập trung. Bằng những việc làm thiết thực này, hy vọng ngành chăn nuôi trong những năm tới sẽ dần ổn định và phát triển.

Đoàn Lệ (ghi)

Bên cạnh đó, việc các cơ quan chức năng phát hiện tại nhiều nơi, trong sản phẩm thịt lợn có chứa hócmôn tăng trưởng nên lập tức xảy ra phản ứng dây chuyền: người tiêu dùng đồng loạt tẩy chay thịt lợn. Vào thời điểm giữa năm 2006, giá lợn hơi F1 ở miền Nam đã xuống dưới ngưỡng 10.000 đồng /kg, lợn hơi siêu nạc 13.000 đồng /kg. Miền Bắc tuy khá hơn nhưng cũng chỉ dao động ở mức 12.000 – 15.500 đồng /kg. Trong khi theo tính toán của các nhà chăn nuôi, giá bán phải đạt 13.000 đồng /kg đối với lợn lai F1 và 16.500 đồng /kg đối với lợn siêu nạc, thì mới có lãi.

Tình trạng thịt lợn không qua kiểm dịch vẫn tiêu thụ tràn lan trên thị trường cũng góp phần đánh mất niềm tin của người tiêu dùng. Hà Tây được coi là tỉnh điển hình trong công tác kiểm dịch, phòng chống dịch bệnh, nhưng 6 tháng đầu năm 2006, số lượng lợn được cấp giấy kiểm dịch chỉ có 14.000 con, trong tổng đàn là 1, 3 triệu con. Nguyên nhân của thực trạng này không chỉ bởi ý thức chấp hành của người chăn nuôi, thương lái chưa tốt mà còn do các quy định, cơ chế cấp kiểm dịch quá nhiêu khê. Để được cấp chứng nhận kiểm dịch, đàn lợn phải tiêm phòng đầy đủ, phải lấy mẫu xét nghiệm hiệu giá kháng thể LMLM mà cơ sở chăn nuôi đã tiêm phòng trước đó. Cứ 10 đầu lợn thì lấy một mẫu xét nghiệm. Phí xét nghiệm 10.000 đồng /mẫu, phí xét nghiệm kháng thể LMLM 141.000 đồng /mẫu. Chưa hết, lệ phí cấp kiểm dịch theo quy định của nhà nước là 3.000 đồng /con, kiểm dịch xe 20.000 đồng /tờ. Tính bình quân nếu thực hiện đầy đủ thủ tục, sẽ đội giá thành lên 500 đồng /kg lợn hơi, trong khi lợi nhuận từ chăn nuôi khi thuận buồm xuôi gió cũng chỉ đạt chừng ấy. Chính vì vậy, hầu hết người chăn nuôi trốn tránh việc đăng ký kiểm dịch.

Giá thành cao, vì đâu?

Bên cạnh nỗi lo giá cả và đầu tư bấp bênh, ngành chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình trạng giá thành sản xuất quá cao so với thế giới. Nguyên nhân là do thức ăn chăn nuôi đắt trong khi chi phí thức ăn chiếm 70% giá thành. Hiện nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc chỉ đáp ứng 68 - 70% nhu cầu, số còn lại phải nhập từ nước ngoài. Loại nguyên liệu tưởng như rất dồi dào ở Việt Nam là ngô, nhưng thực tế lại thiếu trầm trọng. Mỗi năm nước ta vẫn phải nhập hàng trăm ngàn tấn ngô, riêng năm 2006 là 500.000 tấn.

Chính vì quá lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nên giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước luôn cao hơn so với các nước trong khu vực khoảng 20%. Cũng vì không chủ động được nguyên liệu đầu vào, mà thời gian vừa qua không ít loại sản phẩm thức ăn gia súc bán trên thị trường đã không đạt tiêu chuẩn chất lượng như đã công bố, gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi lợn. Theo kết quả kiểm tra của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT), có tới 58% số mẫu sản phẩm thức ăn công nghiệp (TACN) lấy từ các nhà máy và 82,7% số mẫu lấy ngẫu nhiên trên thị trường, sau khi kiểm tra đã không đạt tiêu chuẩn.

Nhìn về tương lai

Trong tương lai, để thích nghi với giá đầu ra thấp, bắt buộc các nhà chăn nuôi phải tìm biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Lợi nhuận trên mỗi kilôgam thịt lợn hơi sẽ ngày càng thấp đi, vì vậy, các cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ dần biến mất, nhường chỗ cho những trang trại chăn nuôi quy mô lớn, tiết kiệm nhân công. Thay vì chăm sóc vài chục đầu lợn như trước kia, tương lai, mỗi nhân công sẽ phải chăm sóc 500 đầu lợn trở lên. Nhà chăn nuôi phải cải tiến cơ sở vật chất kỹ thuật về giống, thức ăn, thú y,... Kiểu chuồng hở không còn thích ứng sẽ dần thay thế bằng chuồng kín, có hệ thống làm mát ổn định nhiệt độ, ngăn cản dịch bệnh.

Việt Nam đã gia nhập WTO, bên cạnh những thuận lợi, người chăn nuôi sẽ đối mặt với biết bao khó khăn thách thức. Chúng ta có thể tiếp cận với thị trường thế giới, được lợi từ việc tiếp thu khoa học công nghệ nhằm tăng cao năng suất, nhưng cũng sẽ bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt. Không còn con đường nào khác, chúng ta buộc phải nâng cao chất lượng thịt lợn (tăng tỷ lệ nạc, không dịch bệnh, không tồn dư chất độc hại), đồng thời phải hạ giá thành. Với mục đích sớm hạ giá thành TACN, Chính phủ đã có kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu ngô, đậu tương để đáp ứng nhu cầu. Sẽ đầu tư nghiên cứu công nghệ sản xuất: hoá dược, khoáng vi lượng, vi sinh, công nghệ sinh học, tạo nguồn nguyên liệu thức ăn bổ sung từ trong nước.

Bên cạnh đó, người chăn nuôi hy vọng nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ như: quy hoạch khu chăn nuôi tập trung để người chăn nuôi yên tâm đầu tư lâu dài; coi các khu kinh tế trang trại như khu công nghiệp nhỏ, miễn giảm tiền thuế đất; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xử lý chất thải, đồng thời tăng cường kiểm tra chất lượng thịt lợn. Có như vậy, ngành chăn nuôi mới hội nhập hiệu quả, giúp nhà sản xuất tránh khỏi những “tổn thương” khi giá cả bấp bênh.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.