Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/02/2010 07:00 (GMT+7)

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam qua các kỳ đại hội (Phần 1)

Hai văn kiện quan trọng trên đây đã đặt cơ sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hội ra đời, trong đó có các hội khoa học - công nghệ. Từ giữa những năm 50 đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, trên phạm vi cả nước đã có 14 hội khoa học - công nghệ lần lượt được thành lập và đi vào hoạt động trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Đó là các hội (sắp xếp theo thời gian thành lập):

STT

Tên hội thành viên(năm thành lập)

STT

Tên hội thành viên(năm thành lập)

01

Hội Luật gia Việt Nam (1955)

08

Hội KH-KT Mỏ Việt Nam (1967)

02

Tổng hội Y học Việt Nam (1955)

09

Hội khoa học Kinh tế Việt Nam(1974)

03

Hội Y học Cổ truyền Việt Nam (1957)

10

Hội KH-KT Nuôi ong Việt Nam (1981)

04

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1966)

11

Hội Cơ học Việt Nam (1982)

05

Hội Đúc-Luyện kim Việt Nam (1966)

12

Hội KH-KT Lâm nghiệp Việt Nam (1982)

06

Hội Vật lý Việt Nam (1966)

13

Hội KH-KT Xây dựng Việt Nam (1982)

07

Hội Toán học Việt Nam (1966)

14

Hội các ngành Sinh học Việt Nam (1982)

Gần như cùng hoà nhịp với sự ra đời của các hội khoa học - công nghệ là xu thế liên kết các hội thành một tổ chức chung. Tháng 3 năm 1965, Uỷ ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Namđược thành lập. Vào thời điểm này mới chỉ có 3 hội khoa học – công nghệ là Hội Luật gia Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam và Hội Y học cổ truyền Việt Nam. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt cũng đã cản trở rất nhiều hoạt động của uỷ ban này.

Thắng lợi trọn vẹn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến lâu dài đầy gian khổ, hy sinh suốt 30 năm, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, non sông thu về một mối đã tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển các hội khoa học - công nghệ và sự hình thành tổ chức chung của các hội. Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, những điều kiện cần thiết cho sự ra đời một tổ chức thống nhất của các hội khoa học - công nghệ trên phạm vi cả nước đã chín muồi. Là trung tâm khoa học và kỹ thuật của cả nước, Thủ đô Hà Nội đã đi đầu trong việc liên kết các hội với việc thành lập Hội liên hiệp khoa học và kỹ thuật Hà Nội, vào tháng 12 năm 1982, về sau đổi tên thành Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội. Hơn ba tháng rưỡi sau đó, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam) ra đời.

Kể từ khi thành lập đến nay, Liên hiệp hội Việt Nam đã trải qua 5 lần đại hội và đang tích cực chuẩn bị cho đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, dự kiến sẽ tiến hành cuối năm 2009.

Đại hội lần thứ I

Trên cơ sở kết quả 18 năm hoạt động của Uỷ ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam(1965 - 1983), ngày 26 - 3 - 1983, tại khách sạn Bờ Hồ (Hà Nội), đại biểu của 14 hội khoa học và kỹ thuật toàn quốc (gọi tắt là hội ngành toàn quốc) và Hội liên hiệp khoa học - kỹ thuật Hà Nội đã long trọng cử hành Đại hội thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam. Giáo sư Viện sĩ Thiếu tướng Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa được bầu làm Chủ tịch đầu tiên, KS. Lê Khắc, GS. TSKH Nguyễn Văn Hiệu, GS. Đào Văn Tập, GS. Lê Văn Thới, GS. Đường Hồng Dật làm Phó Chủ tịch, KS. Lê Khắc kiêm nhiệm chức vụ Tổng thư ký và làm Trưởng Ban Thư ký Liên hiệp hội Việt Nam. Bên cạnh đó còn có Ban Tổ chức, Ban Kiến thức và Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, Ban Tuyên truyền và Xuất bản; Ban Kinh tế.

Trụ sở Liên hiệp hội Việt Nam lúc đó đặt tại số nhà 30B phố Bà Triệu, Hà Nội.

Ngày 29 - 7 - 1983, Hôi đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định 121/HĐBT về việc cho phép Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam chính thức thành lập và hoạt động. Quyết định này có thể được xem là “ Giấy khai sinh” của Liên hiệp hội Việt Nam.

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam ra đời là nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức cả nước, điều hoà và phối hợp hoạt động của các hội thành viên. Đại hội thành lập Liên hiệp hội Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước.

Trong những năm đầu “vạn sự khởi đầu nan”, Liên hiệp hội Việt Nam tập trung vào công tác củng cố và phát triển tổ chức, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, theo tinh thần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các cô, các chú phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các cô, các chú”.

Sau nhiều năm trực thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), rồi Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), tháng 8 - 1984, Báo Khoa học thường thức chuyển về trực thuộc Liên hiệp hội Việt Nam và đổi tên thành Báo khoa học và Đời sống.

Trải qua 5 năm xây dựng và hoạt động ngày 11 - 4 - 1988, Liên hiệp hội Việt Nam đón nhận Chỉ thị 35-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam,trong đó nêu rõ “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo cơ cấu và quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ương”.

Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên (1983 - 1988), Liên hiệp hội Việt Nam đã có thêm 8 hội thành viên, trong đó có 4 hội ngành toàn quốc và 4 liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh, thành phố (gọi tắt liên hiệp hội địa phương), đó là

- Hội ngành toàn quốc:

1. Hội KH-KT Địa chất Việt Nam (1983)

2. Hội Những người làm vườn Việt Nam (1986)

3. Hội KH-KT Cơ khí Việt Nam (1988)

4. Hội KH-KT Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (1988)

- Liên hiệp hội địa phương:

1. Liên hiệp hội tỉnh Nghệ Tĩnh (1985)

2. Liên hiệp hội tỉnh Kiên Giang (1985)

3. Liên hiệp hội thành phố Hồ Chí Minh (1986)

4. Liên hiệp hội thành phố Hải Phòng (1987)

Đại hội lần thứ II

Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Từ đây, không những sản xuất được mở mang, mà một luồng gió mới cũng được thổi vào đời sống xã hội, tạo những điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển các tổ chức nhân dân, trong đó có các hội khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh đó, ngày 12 - 5 - 1988. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp hội Việt Nam đã khai mạc tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với sự tham gia của đại biểu 18 hội ngành toàn quốc và 5 liên hiệp hội địa phương. Tham gia Đoàn Chủ toạ Đại hội có các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Chủ tịch Trần Đại Nghĩa, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hữu, giáo sư Phạm Như Cương, Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Hiệu, Giáo sư Tiến sĩ Hà Học Trạc, Giáo sư Nguyễn Trọng Hiệp và 3 vị khách quốc tế là các trưởng đoàn đại biểu Hội Kiến thức Liên Xô, Hội Phổ biến kiến thức Bungari và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Liên Xô. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Đại tướng Võ Nguyên Giáo đã phát biểu với Đại hội, toàn văn đăng trên nhiều báo, tạp chí. Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có đoạn: “Đảng và nhân dân ta tự hào có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo hàng chục vạn người, lòng đầy nhiệt huyết, muốn cống hiến nhiều cho xã hội, đưa đất nước mau chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên con đường văn minh, hạnh phúc. Trong đội ngũ đông đảo đó, có nhiều nhà khoa học và kỹ thuật tài năng, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như cho bản thân sự nghiệp khoa học kỹ thuật của nước nhà. Hội cần phối hợp với ngành giáo dục và các bộ máy thông tin, báo chí truyền thông đại chúng tạo ra một trường xã hội rộng lớn có đông đảo quần chúng nhân dân lao động trực tiếp tham gia và được đào tạo.

Trọng tâm công tác của Hội là tạo ra được phong trào quần chúng hoạt động khoa học kỹ thuật, góp phần đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống.

Với sức mạnh tập hợp liên ngành và cách làm việc hợp tác năng động, Hội cũng có thể đảm đương được tốt chức năng phản biện và giám định xã hội”.

Với sự nhất trí cao, Đại hội đã thông qua báo cáo của Ban Chấp hành, Điều lệ (sửa đổi và bổ sung), Quy chế tổ chức và hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam. Kể từ sau Đại hội II, Liên hiệp hội Việt Nam có Hội đồng Trung ương và Hội đồng Trung ương có Đoàn Chủ tịch.

Thể theo nguyện vọng của đông đảo các nhà khoa học và các hội thành viên, Đại hội đã suy tôn Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp hội Việt Nam. Hội đồng Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam gồm 49 uỷ viên, đại diện cho tất cả các hội thành viên, cơ quan trung ương Liên hiệp hội Việt Nam và một số cơ quan hữu quan. Hội đồng Trung ương đã bầu ra Đoàn Chủ tịch bao gồm 9 uỷ viên do Giáo sư Tiến sĩ Hà Học Trạc làm Chủ tịch, Tiến sĩ Trịnh Văn Tự và Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm làm Phó Chủ tịch. Tiến sĩ Trịnh Văn Tự kiêm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký, Trưởng Ban Thư ký - Từ năm 1990, Cử nhân Trần Cư đảm nhiệm các chức vụ này. Uỷ ban Kiểm tra Liên hiệp hội Việt Nam gồm Chủ nhiệm là Kỹ sư Lê Khắc và 2 uỷ viên. Sau khi kỹ sư Lê Khắc qua đời, từ năm 1990, Tiến sĩ Lê Quang Báu lên thay.

Năm 1989, cơ quan trung ương Liên hiệp hội Việt Nam chuyển về nhà số 53 Nguyễn Du, Hà Nội, trụ sở của Liên hiệp hội Việt Nam từ đó đến nay.

Trong nhiệm kỳ II (1988 - 1993) của Liên hiệp hội Việt Nam, tình hình thế giới đã trải qua những diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự tan ra của Liên Xô và sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu. Tại các cuộc gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đỗ Mười và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước diễn ra trong các ngày 20 và 24 - 9 - 1991, đại biểu của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã nhất trí cao với sự đánh giá hiện trạng đất nước, khẳng định những thành quả bước đầu về chính trị, kinh tế, xã hội của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đề xuất những kiến nghị đúng đắn nhằm góp phần khắc phục khó khăn trước mắt và tiếp tục đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 20 - 11 - 1992, Ban Bí thư trung ương Đảng ra Thông báo 37-TB/TW về tổ chức và hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam, trong đó đề ra yêu cầu “cần thể chế hoá chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội về khoa học và kỹ thuật của các hội”.

Tại Thông báo 52-TB/TW ngày 31 - 8 - 1993, lần đầu tiên, Ban Bí thư Trung uơng Đảng khẳng định: “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam”.

Sau buổi làm việc với lãnh đạo Liên hiệp hội Việt Nam, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã được ghi lại tại Thông báo 115/TB ngày 19 - 4 - 1993 của Văn phòng Chính phủ.

Năm 1992, lần đầu tiên, Liên hiệp hội Việt Nam có 2 cán bộ lãnh đạo trúng cử đại biểu Quốc hội khoá IX.

Cũng trong năm này, cùng với các hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức khoa học – công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Liên hiệp hội Việt Nam bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Yaly trên sông Sê san (Gia Lai). Tiếp theo đó, đầu năm 1993, Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện việc thẩm tra tài liệu kỹ thuật đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam do hãng Nippon Koei (Nhật Bản) soạn thảo.

Tháng 01 - 1990, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc là cơ quan ngôn luận của Liên hiệp hội Việt Nam ra số đầu tiên.

Kể từ năm đó, Liên hiệp hội Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng Liên đoàn Lao dộng Việt Nam và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh bắt đầu tổ chức hai năm một lần Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn ngành.

Hai năm sau đó, Liên hiệp hội Việt Nam thành lập Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam.

Sau Đại hội II, số lượng các hội thành viên của Liên hiệp hội Việt Nam không ngừng tăng lên với 16 hội ngành toàn quốc với 3 liên hiệp hội địa phương mới được thành lập.

- Hội ngành toàn quốc:

STT

Tên hội thành viên(năm thành lập)

STT

Tên hội thành viên(năm thành lập)

01

Hội Địa lý Việt Nam (1988)

09

Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam (1990)

02

Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (1988)

10

Hội khoa học Đất Việt Nam (1991)

03

Hội Tin học Việt Nam (1989)

11

Hội Chăn nuôi Việt Nam (1991)

04

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam (1989)

12

Hội Thú y Việt Nam (1991)

05

Hội Hoá học Việt Nam (1989)

13

Hội Dân tộc học Việt Nam (1991)

06

Hội KH-KT Trắc địa-Bản đồ-Viễn thám Việt Nam (1990)

14

Hội KH-KT Nhiệt Việt Nam (1992)

07

Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (1990)

15

Hội Bảo quản nông sản thực phẩm Việt Nam (1992)

08

Hội Điện lực Việt Nam (1990)

16

Hội KH-KT Biển Việt Nam (1992)

- Liên hiệp hội địa phương:

1. Liên hiệp hội tỉnh Khánh Hoà (1988)

2. Liên hiệp hội tỉnh Cần Thơ (1990)

3. Liên hiệp hội tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1991).

Thực hiện Quyết định 268-CT ngày 30 - 7 - 1990 của Chủ tịch Hội, đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ với những quy mô khác nhau, từ trung tâm, công ty, tổng công ty đến liên hiệp khoa học - sản xuất. Kể từ khi Quyết định 268-CT hết hiệu lực, một bộ phận các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của Liên hiệp và các hội thành viên buộc phải giải thể. Nhiều đơn vị kinh tế khác chuyển đổi thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo Quyết định 196-CT ngày 5 - 6 - 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.