Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 21/12/2006 23:27 (GMT+7)

Lịch sử tự nhiên chân chính

Lịch sử tự nhiên đương nhiên là khác với lịch sử của con người. Lịch sử tự nhiên chẳng cần gì đến sự có mặt hay không có mặt của con người, nhưng lịch sử con người thì chẳng bao giờ có thể thiếu vắng tự nhiên được. Con người cũng là một loài như bao nhiêu loài khác nhau trên trái đất. Bản thân con người cũng chính là tự nhiên và tự nhiên cũng là “thân thể vô cơ” của con người ( Mác, Hệ tư tưởng Đức). Xã hội chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện đặc thù của tự nhiên. Xét về bản thể luận thì con người là tính thứ hai (thực ra đó cũng chỉ là tương đối), còn xét về nhận thức luận hay thực tiễn luận thì con người là tính thứ nhất. Tuy nhiên, cho dầu như thế nào đi nữa thì một nửa không thể chia cắt của con người vẫn là tự nhiên. Con người mai sau dẫu có văn minh đến dâu đi nữa cũng không thể sống ngoài vũ trụ được.

Thông thường, đối tượng nhận thức càng xa bao nhiêu càng khó bấy nhiêu, nhưng khó nhất có lẽ không phải ở xa nhất mà ở gần nhất, ở ngay tại chính bản thân mình. Ai dám bảo rằng nhận thức quan hệ giữa một nửa là tự nhiên và một nửa là xã hội của con người là dễ? Cái hay của những nhà tư tưởng lưng danh của Pháp ở thế kỷ XVIII, thế kỷ mà người ta gọi là thế kỷ của nước Pháp, là đã “đòi” lại con người từ bàn tay của thượng đế, để trả về cho con người tự nhiên. Con người là do hoàn cảnh và do giáo dục tạo ra chứ không cần đến sự ban phát nào của thượng đế cả. Như vậy có nghĩa là đứng trước thượng đế thì họ cần đến hoàn cảnh tự nhiên, còn đứng trước con người thì họ lại “quên” mất tính năng động, tính thứ nhất của chính con người. Cho nên Mác mới nhắc họ để họ khỏi “quên rằng cần phải có những con người để làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần được giáo dục” (Luận cương Feuerbach, III).

So với các nhà tư tưởng nói trên, J.J. Rousseau có lẽ là một người Pháp “yêu” tự nhiên hơn ai hết. Thậm chí người ta còn cho rằng ông đã khuyên con người hãy tránh xa cái xã hội “hãy “chạy trốn vào tự nhiên”. Voltaire còn mỉa mai rằng Rouseau muốn quay ngược bánh xe lịch sử trở về với thời kỳ con người còn đi bốn chân. Ấy vậy nhưng lý luận của Rousseau lại là cơ sở cho cuộc cách mạng xã hội ở phương Tây. Văn nghệ Phục hưng thế kỷ XV là thời kỳ mà cái “tự nhiên” bị cái “siêu nhiên” đè bẹp suốt nghìn năm, bỗng chuyển mình đứng dậy, đã tạo ra trang sử mới chưa từng có của nhân loại, trang sử “chiến thắng” của cái tự nhiên. Nhưng “chiến thắng cũng là chiến bại” (Héraclite), chiến thắng của dục vọng tự nhiên “bên trong” mở đường cho khoa học kỹ thuật càng ngày càng lao vào phá hoại tự nhiên “bên ngoài” để rồi không biết lịch sử sẽ kết thúc ở đâu, để rồi “nhận thức biến nó thành một tấm gương phản chiếu vũ trụ, kỹ thuật biến nó thành một kẻ sáng tạo ngạo mạn và sự “điên rồ” biến bó thành một sinh vật đau khổ và cô đơn” (André Bourguignon, Con người không thể đoán trước).

Tuy rằng tính hai mặt của nó càng ngày càng bộc lộ, nhưng công lao trả con người về với tự nhiên của nó vẫn là công lao bất diệt, một cột mốc chưa từng có của nhân loại. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã bắt đầu Tuyên ngôn độc lập bằng cái tất nhiên của tự nhiên đã được thừa nhận từ thế kỷ XVIII ở phương Tây:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Hồ Chí Minh kết luận:

“Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

“Tạo hoá” hay “Tư nhiên” là điểm tựa của nhân quyền, một lần nữa được tái khẳng định ở phương Đông, nơi mà chính những người đã từng tuyên bố nó ở thế kỷ XVIII đã làm ngược lại.

Không phải chỉ ở thế kỷ XVIII, sang thế kỷ XIX, Feuerbach ở Đức cũng được xem là nhà nhân loại học (anthropology) có một không hai. Ông vốn nổi danh là nhà triết học tư nhiên (natural philosophy) bởi vì tự nhiên được ông xem như là chìa khoá để tháo gỡ mọi vấn đề của con người. Nếu muốn hiểu con người mà không đặt nó trong quan hệ với tự nhiên thì không thể nào hiểu được con người, cũng như muốn hiểu tự nhiên mà không đặt nó trong quan hệ với con người thì không thể hiểu tự nhiên. Feuerbach rất xem trọng dấu ngang ngắn giữa người và tự nhiên. Theo ông, bản chất của con người hay của bất cứ động vật nào trên đời đều do cái ăn và cách ăn của nó quy định. Đúng là ông đã giải thích tự nhiên từ tự nhiên. Cái hay của ông ở đó và cái dở của ông cũng chính là ở đó. Ông không hề thấy cái “xã hội” của lịch sử chút nào cả. Cho nên Mác vừa khen vừa chê ông rằng:

“Khi Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử, còn khi ông có tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật” (1).

Sở dĩ khi nói về lịch sử, Feuerbach không phải là nhà duy vật bởi vì ông chỉ thấy quan hệ giữa người và tự nhiên chứ ông không thấy quan hệ giữa người và người trong đời sống hiện thực của họ. Con người đã tạo ra lịch sử của mình trong quan hệ hiện thực đó. “Hiện thực” ở đây không phải hoàn toàn chỉ có tính xã hội mà còn bao hàm cả tính tự nhiên, tự nhiên – xã hội. Nhưng đừng tưởng rằng Mác chỉ xem xét bản chất con người ở “quan hệ xã hội” mà thôi, cho dù quan hệ đó là quan hệ sản xuất, mà quên đi cái tự nhiên nơi con người. Bởi vì “con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài” (2). Cho nên Mác đã đánh giá rất cao về “chủ nghĩa tự nhiên” của Feuerbach:

“Chúng ta đồng thời cũng thấy rằng chỉ có chủ nghĩa tự nhiên mới có khả năng hiểu được hành vi của lịch sử toàn thế giới” (3).

Sở dĩ Mác đánh giá cao chủ nghĩa tự nhiên như vậy là bởi vì:

“Giống như mọi cái tự nhiên đều phải nảy sinh, con người cũng có hành vi phát sinh của mình, có lịch sử, nhưng lịch sử được phản ánh trong ý thức của con người và do đó với tính cách là hành vi phát sinh, nó là hành vi phát sinh tự tước bỏ mình một cách có ý thức. Lịch sử là lịch sử tự nhiên chân chính của con người” (4).

Chỉ có bốn từ “tự nhiên chân chính” mà lịch sử của con người vòng vo đến như vậy. Trong khi ở phương Tây, Feuerbach “thích” tự nhiên bao nhiêu thì ở phương Đông, xã hội phong kiến càng về sau càng “ghét” tự nhiên bấy nhiêu. Thực ra ở phương Đông, người đầu tiên cảnh cáo với thiên hạ rằng đừng bao giờ đánh mất cái “tự nhiên” của mình, đó là Lão Tử với tác phẩm Đạo đức kinh, chỉ vẻn vẹn có 5 nghìn chữ mà ai cũng biết. Người ta cho rằng giữa ông và Rousseau có nhiều điểm tương đồng tuy một người ở phía Đông, một người ở phía Tây, một người ở đầu vào một người lại ở đầu ra của xã hội phong kiến. Cái mà Lão Tử lo đã trở thành sự thực. Thuyết “vô vi” của ông đến triều đại nhà Tống, nghĩa là hơn một nghìn năm sau, quả nhiên bản thân nó đã được “vô vi”. Giai cấp thống trị phong kiến không thích thú dấu gạch nối giữa tự nhiên và con người, có lẽ bởi vì sự tồn tại của họ tỷ lệ ngược với điều đó. Lịch sử mà họ tạo ra đương nhiên được xem là lịch sử “chân chính” nhưng thực ra đó chỉ là lịch sử của bộ máy nhà nước do những “bọn nho học đã đậu được cái bằng cử nhân, tấn sĩ, ngày nay bọn tây học đã được cái chức ký lục thông ngôn, có khi bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Những bọn quan lại nói trên đây chỉ còn một tiếng chỉ đúng hơn là “lũ ăn cướp có giấy phép vậy” (5). Đó là nhận xét của Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX.

Cái “tự nhiên” ở phương Đông không phải nhường chỗ cho cái “siêu nhiên” như ở phương Tây mà nhường chỗ cho cái “phản tự nhiên”. Đáng lẽ “lịch sử tự nhiên chân chính” phải “tự tước bỏ mình” thì nó chỉ “tước bỏ” cái tự nhiên mà thôi. Nó không biết rằng chính cái nhà nước phong kiến của nó “là sự thú nhận xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hoà mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được... cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”; và lực lượng đó nảy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng lên trên xã hội và càng ngày càng xa rời xã hội chính là nhà nước” (6).

Như vậy, thay vì phải “tự tước bỏ mình một cách có ý thức”, thì nó lại “khẳng định mình một cách kém ý thức”. Ăng ghen nhận xét chí lý về tai hại của những thời kỳ lịch sử mà cái tự nhiên bị đánh mất này:

“Lòng tôn kính không ép buộc mà trước kia người ta tự nguyện biểu thị với các cơ quan của xã hội thị tộc, là không đủ đối với bọn quan lại nữa, ngay trong trường hợp họ có thể có được sự tôn kính đó; họ là đại biểu cho một quyền lực đã trở nên xa lạ với xã hội, nên phải bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh, và đặc biệt bất khả xâm phạm. Viên cảnh sát tồi nhất của một nhà nước văn minh vẫn có “quyền uy” hơn tất cả những cơ quan của xã hội thị tộc cộng lại; nhưng một vương công có thế lực nhất, một chính khách hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn có thể ghen với vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn kính tự nguyện và không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội, còn những người kia bắt buộc phải mong muốn đại biểu cho một cái gì ở bên ngoài và đứng trên xã hội” (7).

Sự xa rời tự nhiên có tính “bắt buộc” đó làm cho nó càng ngày càng khó gần gũi trở lại được. Tuy nhiên, lịch sử là lịch sử tự nhiên, sự tồn tại tự nhiên đòi hỏi hoạt động có tính người viết thành lịch sử xã hội. Để lưu ý đến tầm quan trọng của lịch sử - tự nhiên nên Ang ghen đã đúc kết thành nguyên lý phổ biến:

“Những cái gì là đúng với giới tự nhiên thì cũng đúng với xã hội” (8).

Đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh, ngay tại Sài Gòn trong bài diễn thuyết “Đạo đức và luân lý Đông Tây” cũng đã lưu ý:

“Xem đó thì cũng đủ biết rằng sự gì gây dựng ra không theo tính tự nhiên của loài người thì dẫu có quyền chuyên chế mạnh đến đâu cũng không buộc người ta theo được” (9).

Ông kêu gọi người Việt Namphải yêu nước Việt Nam . “Yêu nước” vừa thuộc lĩnh vực chính trị vừa thuộc lĩnh vực đạo đức. Đạo đức có trước và gần với tự nhiên hơn chính trị. Theo Phan Châu Trình, cái trước bị mất thì cái sau cũng khó tồn tại:

“Đạo đức mất trước, nước mất sau thật không phải là lời nói ngoa vậy” (10).

Mất đạo đức có hai xu hướng, xu hướng “tự nhiên” thiếu tính người và xu hướng “phản tự nhiên” hình thức, giả dối. Hai xu hướng hình như trái ngược nhau nhưng lại thường xuất hiện cùng một lúc. Chính trị xa tự nhiên hơn đạo đức, chính trị cao hơn tự nhiên nhưng ở trong chứ không phải ở ngoài tự nhiên. Giai cấp, nhà nước, chính quyền, chính trị... chỉ là một thời kỳ ngắn ngủi của lịch sử nhân loại. Cho nên nếu “chính trị hoá” cuộc sống tự nhiên thì lịch sử chỉ còn lại là “lịch sử chân chính”, thiếu mất tự nhiên. Nếu như cho rằng văn học, nghệ thuật phục vụ chính trị thì chi bằng nên quan niệm rằng cả văn học, nghệ thuật lẫn chính trị đều phải phục vụ cho cuộc sống tự nhiên của con người. Những bông hoa văn học, nghệ thuật thực sự chỉ có thể nảy nở trên mảnh đất tự nhiên mà thôi.

Kinh tế của nhiều nước phương Đông đang có chiều khởi sắc, dục vọng tự nhiên của con người càng được thoả mãn bao nhiêu thì điều kiện “thắng lợi” của cái tự nhiên càng nhiều bấy nhiêu. Chẳng biết bước sang thế kỷ XXI, 500 năm của thời kỳ Cinq Cento, liệu cái “tự nhiên” ở phương Tây có lặp lại ở phương Đông hay không? Lịch sử thường hay trùng lặp nhưng bao giờ cũng dưới hình thức khác. Bản Tuyên ngôn độc lậpvì quyền tự nhiên chân chính của con người được Hồ Chí Minh tuyên bố giữa thế kỷ XX, thế kỷ đầy sóng gió, đã và sẽ mãi mãi trở thành lịch sử tự nhiên chân chính nhất không ai có thể phủ nhận được của dân tộc Việt Nam cũng như của toàn nhân loại.

________________

1) C. MácPhri drich Ăng ghen tuyển tập, Nxb Sự thật, 1980, t.1, tr.286.

2). C. Mác và Ph. Ăng ghen toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t. 42, tr. 234.

3. C. Mác và Ph. Ăng ghen toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t. 42, tr. 232.

4. Sđd, tr. 234.

5) Phan Châu Trinh toàn tập, Nxb Đà Nẵng, 2005, t. 3, tr. 255.

6). C. Mác Pri drich Ăng ghen tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, t.vi, tr. 260-61.

7) Sđd, tr. 262-63.

8) Sđd, tr 268.

9) Phan Châu Trinh toàn tập, Nxb Đà Nẵng, 2005, t.3, tr 249

10) Sđd. tr. 261

Nguồn: Xưa & Nay, số 260, 5/2006

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA xây dựng đề án vị trí việc làm giai đoạn 2027–2031
Là hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đang tập trung triển khai việc rà soát vị trí việc làm (VTVL), xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN).
Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.