Lễ cầu mùa của người Tà Ôi
Lễ hội cầu mùa của người Tà Ôi tổ chức theo chu kỳ từ 2 đến 3 năm một lần, cầu cho một mùa màng bội thu, và sức khoẻ cho buôn làng. Thời gian lý tưởng nhất cho tổ chức lễ hội là sau Tết âm lịch, khi đó những cơn mưa của vùng Trường Sơn đã tạnh, cây cối đâm trồi nẩy lộc, đời sống vật chất cũng như tinh thần đầy đủ, thời gian rảnh rỗi… Lễ hội cầu mùa nơi đây không phải tự gia đình tổ chức mà do làng đứng ra tổ chức và có sự đồng thuận, đóng góp của cải, thực phẩm… của tất cả bà con trong làng.
Lễ hội được tổ chức bên trong nhà rông và khoảng đất trống trước nhà rông của làng. Lễ vật dâng cúng gồm: Một cây chuối xiêm thân to và có buồng trái già, 10 cây mía nguyên ngọn xanh tốt, rượu cần ngon 5 ché, xâu cá nướng, cơm, xôi. Ngoài ra còn có thịt gà, thịt dê, heo và các thực phẩm khác như các loại rau rừng… và một con trâu. Vật cúng của người Tà Ôi bao giờ cũng có axom và cây asiêu dài khoảng 15cm được chẻ làm hai mảnh đều nhau làm vật thiêng để xin kêu (bói) khi cúng, một số tấm thổ cẩm đẹp nhất để phủ lên đầu con vật hiến sinh (trâu) trước khi đâm.
Để bắt đầu buổi lễ, chủ lễ cùng với một số thanh niên được chọn tiến hành làm lễ xin đất chôn cây nêu buộc trâu, cọc buộc dê, heo. Lễ vật cho lễ này gồm: cồng chiêng, gùi lớn, gùi nhỏ, ché, gạo nếp và một ít cá khô nướng… Sau các nghi lễ truyền thống, chủ lễ là người đào lỗ nọc đầu tiên trong tiếng cồng chiêng, tù và vang vọng khắp cả núi rừng báo hiệu lễ hội cầu mùa bắt đầu.
Khi lỗ cọc đã đào xong, chủ lễ tay cầm ống tre gắn trong đó có đựng cám gạo nếp đổ lỗ cộc và đi vòng trước sân vừa đi vừa tung gạo nếp, cơm trộn lá vung lên trời và khấn mời thần linh về dự. Sau cùng chủ lễ tiến về chỗ buộc trâu vung cơm ném vào đầu trâu trong tiếng hò reo của dân làng. Nghi thức kết thúc, chủ lễ cùng với dân làng lên hết nhà rông để làm lễ cúng Yang Bah. Tại các nhà rông, chủ lễ thận trọng đặt mâm cúng gồm: một con gà trống tơ và tiết đã luộc chín, cá nướng, cơm, xôi nếp, gạo đã bóc vỏ, ruợu cần… Cùng lúc dưới sân nhà rông, các trai ráng cùng nhau mổ lợn, dê chuẩn bị cho việc cúng và làm lễ đâm trâu vào ngày hôm sau.
Hôm sau, khi bà con đã tụ tập đông đủ, chủ lễ cùng với các già làng đứng trước mâm cúng, sau đó vung gạo khắp con con vật hiến sinh (trâu). Chủ lễ đưa tấm thổ cẩm đẹp nhất để làm phép ngay trên đầu trâu, rồi sau đó lấy cất đi. Đến đây, những điệu múa truyền thống được dân làng quây quần thành một vòng tròn quanh cột buộc trâu cùng tiếng trống, cồng chiêng đánh lên tục. Hai già làng được chọn thực hiện việc đâm trâu trong tiếng hò reo. Sau khi trâu được đâm chết, họ xẻ thịt và biến thành món ăn truyền thống ngay tại sân nhà rông.
Nguồn: KH&ĐS Chuyên đề NTDTTS&MN Số 2 27/10/2006








