Lập trình cho tương lai của ngành khoa học xã hội và nhân văn
Dĩ nhiên sẽ phải cần nhiều giải pháp khác nhau. Nhưng có lẽ cái chính không phải là ở các giải pháp cụ thể. Khoa học xã hội và nhân văn là lĩnh vực của ý thức xã hội, của tư tưởng. Một nền khoa học xã hội và nhân văn tiên tiến thì trước hết tư tưởng của nó phải tiên tiến. Ở Việt Nam muốn làm được điều đó cần có sự thay đổi nhận thức rất lớn. Phải mạnh dạn hội nhập, chủ động hội nhập và hội nhập triệt để, đừng khư khư ôm giữ cái ý thức về bản sắc được hiểu một cách siêu hình và nhuốm đầy tinh thần tự tôn dân tộc hay tâm lý tự ti mà nói như André Gide đó là “ Loại bản sắc mà người ta sợ đánh mất, không phải vì người ta biết nó là quý giá mà bởi người ta lúc nào cũng tin rằng nó sắp sửa bị mất” (A. Gide: “Về ảnh hưởng trong vâưn học”. Văn học nước ngoài, số 3-2006, tr. 167).Mọi sự tiếp thu nửa vời, ngập ngừng, vừa hội nhập vừa lo sợ đều không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí có thể kéo theo những thứ rất tệ hại. Kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy dũng cảm hội nhập triệt để một lần sẽ vèa thu nhận được tinh hoa của người ta để phát triển, vừa giữ được bản sắc. Cái còn lại sau cuộc hồng thủy hội nhập ấy chính là bản sắc. Nó gắn với cốt cách sinh tồn của dân tộc mà cốt cách ấy thì chẳng bao giờ sợ mất, cũng như một dân tộc, một nền văn hóa không dễ gì bị hủy diệt. Hàng ngàn năm Bắc thuộc dân tộc ta hội nhập trong bị động, trong nô lệ, vậy mà bản sắc có mất đâu.
Chính trong quá trình hội nhập triệt để ấy, nhờ tiếp thu các nguồn tư tưởng khác nhau, khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam sẽ đa nguyên hơn, nền tảng phương pháp luận của nó cũng sẽ đa dạng hơn, không bị bó hẹp trong một học thuyết hay một lập trường cứng nhắc. Nhờ hội nhập, ảnh hưởng của quan niệm “chính trị là thống soái” sẽ phai nhạt dần, quan hệ giữa chính trị, chính quyền và khoa học xã hội và nhân văn sẽ nới lỏng đi, khoa học xã hội và nhân văn không còn được coi như một công cụ của công tác tư tưởng mà sẽ được đối xử như một lĩnh vực hoạt động tinh thần độc lập, một khoa học có vị trí riêng, cần được cư xử bình đẳng. Nhờ chủ động hội nhập, khoa học xã hội và nhân văn nước ta sẽ có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng tiên tiến của thời đại, từ đó hiện đại hóa mình, trước hết không chỉ ở phương pháp nghiên cứu mà ở tầm nhìn, ở quan niệm và điều đó sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của toàn xã hội. Đến lượt mình, sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước.
Thật ra để xây dựng một nền khoa học xã hội và nhân văn hiện đại còn cần một điều kiện quan trọng nữa đó là tiền. Khoa học xã hội và nhân văn nước ta lâu nay còn yếu kém một phần vì nó không có nhiều tiền, mà tiền thì đều do Nhà nước chi và quản lý. Nhà nghiên cứu muốn có đủ tiền để làm và làm theo ý mình thật không dễ. Kinh phí nhà nước chủ yếu tập trung vào một số dự án, đề tài trọng điểm ở trung ương và rơi vào một số nhóm, một số người thân quen hoặc có chức có quyền. Hàng ngàn nhà nghiên cứu ở các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu ở địa phương chỉ nhận được những đồng tiền nhỏ giọt, họ không được hưởng lợi từ hoạt động nghiên cứu của mình và cũng không được đối xử như những nhà khoa học. Muốn có được quyền lợi nhà khoa học phải chọn con đường làm quan, tức là để có chức có quyền. Trong giới khoa học cũng vậy mà trong giới sáng tác văn học nghệ thuật cũng vậy. Đó là một nguy cơ đối với đội ngũ trí thức của chúng ta.
Mới đây, chính phủ vừa ban hành Nghị định 115, được xem như là “Khoán 10 trong khoa học”. Đây là một hình thức nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị nghiên cứu và tăng cường tính hiệu quả của công tác khoa học. Tuy nhiên cần phải cân nhắc và tính toán cụ thể cho từng ngành, từng trường hợp, nhất là đối với các ngành khoa học lý thuyết và đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn vốn là những ngành hay được xem là “viển vông”, giá trị của nghiên cứu thường mang tính chất chiến lược và gián tiếp hơn là hiệu quả sử dụng trực tiếp. Chúng ta hay nói về sự lãng phí trong nghiên cứu khoa học. Sự lãng phí này là có thật nhưng đó không phải là do các nghiên cứu này không ứng dụng được ngay trong thực tế mà là do chất lượng, sự vô bổ về phương diện khoa học của các đề tài được nghiệm thu. Xét về một phương diện nào đó, khoa học xã hội và nhân văn cũng là “vô ích”. “Vô ích” như cái đẹp, như nghệ thuật. Nhưng “vô ích” về mặt này nó lại vô cùng hữu ích về mặt khác. Không có chúng, con người chỉ biết ngắm mình trong tự nhiên và sản phẩm lao động do mình tạo ra, trong khi quan trọng là phải ý thức được về mình và về những ý thức khác, tạo nên sự đối thoại như là bản chất của sự sống phát triển.
Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn là hết sức cần thiết. Song không nên và và không thể chỉ trông chờ vào Nhà nước. Đòi hỏi bao cấp về tiền bạc mà lại muốn thoát ra khỏi bao cấp về tư tưởng là điều không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cần xã hội hóa hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Cần rất nhiều quỹ “phi chính phủ” và các nhà tài trợ, các mạnh thường quân. Tiếc rằng hiện nay ở ta, những nguồn tiền này gần như rất ít và nếu có thì chủ yếu vẫn là dành cho các cuộc thi hoa hậu, các show ca nhạc và biểu diễn thời trang!
Sẽ không có một lập trình nào cho tương lai của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam ngoài sự lập trình của chính nó. Cởi bỏ mọi ràng buộc, tạo điều kiện để nó xích gần lại đời sống, để nó tự do trong những tìm kiếm bất tận về chân lý và hạnh phúc là m ở đường cho nó phát triển, đi tới đỉnh cảo và hội nhập. Và chỉ trong hội nhập nó mới thực sự đạt tới đỉnh cao.








