Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 21/05/2013 23:40 (GMT+7)

Làm rau sạch cho ai? Ai làm rau sạch?

Rau sạch an toàn (safe vegetable) là rau được sản xuất với công nghệ vẫn còn sử dụng hóa chất nông nghiệp nhưng hạn chế, hợp lý hơn và sản phẩm đến người tiêu dùng phải đảm bảo 4 chỉ tiêu an toàn: về dư lượng NO3, kim loại nặng, về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, về dư lượng vi sinh vật gây bệnh cho người không vượt mức cho phép và đảm bảo khả năng truy tìm xuất xứ.

Rau sạch hữu cơ (organic vegetable) là rau được sản xuất với công nghệ hoàn toàn không sử dụng hóa chất nông nghiệp, trong môi trường sinh thái sạch và an toàn, sản phẩm tuyệt đối an toàn với người tiêu dùng, không có các dư lượng độc hại và đảm bảo khả năng truy tìm xuất xứ.

Khi làm rau sạch, theo chúng tôi một câu hỏi đầu tiên nhưng rất cơ bản và nhân văn cần được giải đáp là: Làm rau sạch cho ai? Ai làm rau sạch?

Làm rau sạch cho ai?

Hiện nay khi nói đến trồng rau an toàn, rau hữu cơ người ta đều tìm nơi tiêu thụ là các siêu thị, nhà hàng, khách sạn, đại sứ quán với giá cao và đối tượng mua chủ yếu là người giàu, người có tiền. Theo ý kiến một số chuyên gia tỷ lệ nhóm tiêu dùng này hiện tại không quá 10-15% cư dân và chủ yếu ở thành phố. Chẳng nhẽ trên 80% người Việt nam, nhất là người nghèo, người ở nông thôn, lực lượng vũ trang, đông đảo học sinh, sinh viên của chúng ta không có quyền được hưởng thụ rau sạch? Theo chúng tôi và chắc là của rất nhiều người, chúng ta làm rau sạch trước hết cho người Việt nam, cả người giàu, người nghèo, người già, thanh niên, trẻ em, người thành phố, nông thôn đều được hưởng thụ. Như vậy nếu đông đảo người tiêu dùng được sử dụng rau sạch thì đó là cộng đồng thụ hưởng rau sạch

Ai làm rau sạch?

Một khi đã xác định làm rau sạch cho cả cộng đồng thì tất nhiên số lượng rau sạch sản xuất và tiêu thụ phải lớn. Không thể chỉ là của một số doanh nghiệp hay trang trại, càng không thể chỉ sản xuất trong nhà lưới, nhà kính! Nhiều người ước tính ở thành phố Hà nội số diện tích nhà kính, nhà lưới thực sự hiện không quá 200 ha, dù có đầu tư lớn đến 1000 ha cũng chỉ chiếm chưa đến 10% diện tích trồng rau hàng năm (12000 ha) và như thế giỏi lắm cũng chỉ đáp ứng 10% tiêu dùng. Ở thành phố Hồ Chí Minh cũng vậy. Tình hình cả nước còn thấp hơn nhiều.

Như vậy để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng rau sạch của đông đảo mọi người chúng ta phải có nhiều người biết làm và tham gia làm rau sạch, làm rau sạch trên diện tích đại trà ngoài đồng ruộng không nhà lưới, nhà kính.

Nếu đông đảo nhà nông bao gồm nông dân, trang trại, doanh nghiệp làm  rau sạch thì đó là cộng đồng sản xuất rau sạch.

Mô hình rau sạch cộng đồng

Nếu câu hỏi trên được trả lời thì rất nhiều vấn đề về phát triển rau sạch phải có sự thay đổi hoặc điều chỉnh, từ nhận thức đến chính sách, đầu tư, công nghệ, đào tạo, pháp lý, chứng nhận, tổ chức sản xuất, tổ chức mạng lưới tiêu thụ, giá cả.

Thí dụ công nghệ cũng cần xây dựng cho những tiêu chuẩn khác nhau để sản xuất rau sạch (rau an toàn, rau an toàn VietGap, rau hữu cơ) để đông đảo nông dân có thể biết trồng rau sạch. Hoặc chính sách đầu tư, các dự án, đào tạo phải cho những đối tượng sản xuất, tiêu dùng khác nhau, chú ý các đối tượng đại trà. Hay mạng lưới tiêu thụ phải rộng khắp, không chỉ có các siêu thị mà phải có nhiều quầy hàng bán rau sạch và những chợ bán rau sạch với các hình thức bao bì khác nhau, giá cả khác nhau (hiện nay chi phí đóng gói bao bì cho rau an toàn để đưa vào các siêu thị chiếm tới 20-25% giá bán, điều mà có thể không nhất thiết đối với rau an toàn bán ở chợ ). Hay vấn đề chứng nhận, cần quy định bắt buộc mọi rau an toàn dù bán ở siêu thị, giao cho nhà hàng, hay cho các bếp tập thể cũng như bán ở các chợ rau sạch đều phải có giấy chứng nhận hợp pháp. Muốn vậy phải xây dựng khung pháp lý có thanh kiểm tra, tăng cường các tổ chức chứng nhận độc lập, đơn giản hóa các tiêu chí phục vụ chứng nhận mà hiện nay quá phức tạp, rập khuôn nước ngoài không cần thiết.

Từ những suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu để áp dụng Mô hình rau sạch cộng đồng mà đầu những năm 2000 một số địa phương đã áp dụng theo mô hình của Vĩnh Phúc dạo đó.

Mô hình rau sạch cộng đồng có mấy đặc điểm sau:

Thứ nhất, đó là cộng đồng về sản xuất rau sạch với mục tiêu nhiều người biết và tham gia trồng rau sạch, sản xuất rau sạch đại trà ngoài đồng ruộng trên quy mô rộng và ngày càng lớn để có sản lượng rau sạch ngày càng cao. Giá thành sản xuất rau sạch đại trà không cao hơn rau bình thường.

Thứ hai, đó là cộng đồng về tiêu dùng rau sạch với mục tiêu nhiều người được hưởng thụ rau sạch, làm sao tỷ lệ rau sạch trên thị trường ngày càng lớn, trước hết là rau an toàn.

Thứ ba, đó là cộng đồng về mặt lợi ích trong phát triển rau sạch, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sản xuất, người kinh doanh, người tiêu dùng và xã hội, bao gồm cà lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường và sức khỏe.

Một số kiến nghị

Với những suy nghĩ nêu trên, để phát triển rau sạch nhanh, bền vững, phù hợp điều kiện của Việt nam, bước đầu chúng tôi có một số đề nghị để cùng trao đổi và các cơ quan chức năng tham khảo nghiên cứu:

1. Nên nghiên cứu áp dụng mô hình rau sạch cộng đồng đề sản xuất rau an toàn và rau hữu cơ, trước mắt tập trung sản xuất rau an toàn VietGap hoặc theo VietGap, chủ yếu sản xuất rau an toàn đại trà ngoài đồng ruộng bởi các doanh nghiệp, các trang trại và đông đảo nông dân được huấn luyện về sản xuất rau an toàn.

2. Cần quy định về mặt pháp lý tất cả rau bán ở siêu thị phải đạt tiêu chuẩn rau VietGap, bán ở các quầy rau an toàn, các chợ rau an toàn, giao cho nhà hàng, bếp tập thể,... phải là rau an toàn và đều có chứng nhận (có thể ban hành logo rau an toàn, rau VietGap, rau hữu cơ). Tổ chức tốt mạng lưới các tổ chức chứng nhận độc lập.

3. Tổ chức rộng rãi mạng lưới kinh doanh rau sạch bao gồm siêu thị, quầy bán rau an toàn, chợ hoặc khu chợ bán rau an toàn với hình thức kinh doanh, bao bì đóng gói và giá cả phù hợp. Đây là công việc trọng tâm cần đầu tư vì hiện nay đang là rào cản chủ yếu đối với phát triển rau an toàn.

4. Cần rà soát lại, bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách, chủ tương, khung pháp lý đối với việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh rau an toàn theo hướng phát triển rau sạch cộng đồng.


Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.