Làm lúa GAP ở đồng bằng sông Cửu Long: Hướng nào?
Vết dầu loang
Tại Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp lần thứ 5/2010 vừa được tổ chức tại Tiền Giang, vấn đề sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GAP đã được các nhà khoa học, đại diện các địa phương ĐBSCL đưa ra phân tích, mổ xẻ.
Trên thực tế, việc triển khai ứng dụng quy trình thực hành sản xuất tốt trên cây lúa ở ĐBSCL đã có những bước tiến rất dài. Năm 2009, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã triển khai 1.300 quyển sổ tay cho 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL, trong đó tập huấn trực tiếp tại 6 tỉnh. Năm 2010, tiếp tục triển khai 700 quyển sổ tay. Theo ông Phạm Văn Dư, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, điều đáng mừng là nông dân đã quan tâm đến việc gia tăng giá trị hạt gạo tiêu thụ trên thị trường và những tác động xấu tới môi trường tự nhiên do sử dụng quá nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Việc nêu lên các yêu cầu của ghi chép sổ tay trong sản xuất lúa đã giúp bà con có ý thức hơn trong việc tính toán giá thành sản xuất và thấy được sự cần thiết phải thay đổi cơ bản quy trình canh tác lúa.
Dưới nhiều tên gọi khác nhau, việc sản xuất lúa theo hướng VietGAP, GlobalGAP đã được nhiều tỉnh, thành phố ĐBSCL triển khai. Đơn cử như tại Đồng Tháp, ngành chức năng địa phương đã xây dựng mô hình cánh đồng sản xuất theo hướng hiện đại, với các nội dung: Mỗi cánh đồng chỉ sử dụng 1 - 3 giống chất lượng cao, sạ hàng từ 80 - 120kg/ha, bón phân cân đối kết hợp phân hữu cơ vi sinh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng. Nhờ đó, đã có một số doanh nghiệp bao tiêu 200 tấn lúa giống với giá cao hơn thị trường 400 đồng/kg và 600 tấn lúa hàng hóa; lợi nhuận cao hơn 3 triệu đồng /ha so với diện tích ngoài mô hình.
TP.Cần Thơ cũng đã xây dựng được 4 nhóm nông dân sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP với hơn 125 nông dân tham gia. Cuối mỗi vụ, nông dân các nhóm sẽ tổ chức hội thảo đánh giá kết quả đạt được, hạch toán kinh tế, những thuận lợi và khó khăn cần khắc phục. Nhiều doanh nghiệp cũng đã đứng ra bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Theo thống kê, tổng diện tích lúa được bao tiêu trên địa bàn thành phố là 7.990ha với trên 3.243 hộ ở các huyện Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ và Nông trường Cờ Đỏ.
Ông Dư đánh giá, kể từ khi việc triển khai ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo hướng VietGAP (từ vụ lúa đông xuân 2008 - 2009) đến nay, tình hình sản xuất lúa theo hướng GAP đã có những chuyển biến tích cực. Trong đó, tỉnh Tiền Giang đã có 104ha đạt tiêu chuẩn GlobalGAP, Sóc Trăng 20ha, An Giang 64ha,... Cục Trồng trọt đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2011 có 20% nông dân sản xuất lúa ở ĐBSCL có sổ tay ghi chép; tỷ lệ này đến năm 2012 là 30%.
Làm GAP theo nhóm nông trại
Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà quản lý, để đạt được mục tiêu này không dễ, bởi khó khăn lớn nhất hiện nay trong việc triển khai sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP là việc ghi chép sổ sách sản xuất của nông dân chưa đạt yêu cầu do trình độ học vấn có hạn và chưa quen với việc ghi chép sổ sách, từ ngữ ghi chép khó hiểu. Đơn cử như tại Đồng Tháp, chỉ có 60% nông dân ghi chép đạt yêu cầu. Nông dân mua giống, thuốc bảo vệ thực vật,... thường không có hóa đơn chứng từ xác nhận nơi bán nên việc truy nguyên nguồn gốc gặp nhiều khó khăn.
Theo TS. Nguyễn Hồng Thủy, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ sinh học Tiền Giang, làm theo GAP thực chất là xây dựng và vận hành một hệ thống quản lý kiểm soát các hoạt động sản xuất, thu hoạch, tồn trữ, sơ chế, đóng gói sản phẩm của 1 nông trại (lựa chọn 1) hoặc nhóm nông trại (lựa chọn 2). Do đặc thù sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đã tồn tại khá lâu ở khu vực ĐBSCL, việc chứng nhận GAP buộc phải theo lựa chọn 2. Tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống quản lý kiểm soát nhiều nông trại cùng làm theo hàng trăm điều khoản của GAP là công việc phức tạp. Nhân sự điều hành hệ thống cần có trình độ nhất định, có thể tiếp thu kiến thức quản lý. Đó là chưa nói đến chi phí vận hành hệ thống, chi phí đầu tư chỉnh sửa hoặc trang bị thêm cơ sở vật chất cho các trang trại để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chi phí chứng nhận GAP khá lớn trong khi giấy chứng nhận chỉ có giá trị trong vòng 1 năm.
Từ thực tế này, TS.Thủy cho rằng, việc để các nhóm nông dân tự ý thức về lợi ích của GAP, tự liên kết lại với nhau thực hiện là rất khó. Giải pháp hữu hiệu nhất là Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố ĐBSCL phối hợp với hệ thống chính trị tại địa phương chủ trì việc xây dựng và vận hành các mô hình GAP. Có thể nhìn thấy hiệu quả của sự phối hợp này ở những mô hình của tỉnh An Giang. Để làm tốt các khâu vệ sinh môi trường, thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, UBND các huyện Châu Phú, Thoại Sơn đã chỉ đạo UBND các xã phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ thực hiện công tác vận động, tuyên truyền, tham gia các chiến dịch làm sạch môi trường; UBND huyện còn đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi phục vụ cho sản xuất, chủ động mời gọi các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ lúa cho dân.
“Để GAP có thể phát triển nhanh ở ĐBSCL thì điều kiện cần là nỗ lực, quyết tâm của ngành nông nghiệp, nghị lực vượt khó của hợp tác xã, bà con nông dân; điều kiện đủ là ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư cho vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm lúa GAP để bà con nông dân yên tâm sản xuất”, TS.Thủy nhấn mạnh.








