Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/02/2007 00:34 (GMT+7)

Kinh nghiệm phát triển nhà máy thủy điện nhỏ trên thế giới

Tiềm năng kinh tế của các nhà máy thủy điện trên toàn thế giới vào khoảng 7300 TWh/năm. Trong số này, 32% là đã khai thác, trong đó có sự đóng góp của TĐN. Ước tính đến năm 2010 từ NMTĐN lượng điện sẽ nhận được 220 TWh/năm, còn tổng công suất của chúng sẽ đạt đến 55GW.

Hiện nay, Trung Quốc là nước đi đầu trong việc phát triển TĐN, với tổng công suất các NMTĐN đã đạt hơn 13 triệu kW. Ở nhiều nước khác như Hà Lan, Bỉ, Belaruxia… mặc dù điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc xây dựng NMTĐN, nhưng phát triển TĐN vẫn được định hướng ưu tiên. Nguyên nhân là các NMTĐN không những góp phần tiết kiệm các nguồn năng lượng khác như than, dầu mỏ, khí đốt… mà còn giải quyết nhu cầu nguồn năng lượng điện tại chỗ cho các vùng sâu, vùng xa và góp phần bảo vệ môi trường. Một NMTĐN với công suất 1MW có thể cung cấp nguồn điện 6000 MWh/năm mà không làm tổn hại đáng kể tới môi trường xung quanh, trong khi một nhà máy điện chạy bằng than cũng cho một lượng điện như thế sẽ phát tán ra không khí 4000 tấn điôxit cacbon/năm.

Một tổng hợp các nhà sản xuất các nguồn năng lượng tái sinh của Tây Ban Nha đã tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của các dạng nhà máy điện sử dụng 8 dạng năng lượng khác nhau: than nâu, than đá, dầu mỏ, hơi đốt, năng lượng hạt nhân, sức gió, năng lượng mặt trời và thủy điện nhỏ. Các nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng, các nguồn năng lượng tái sinh làm ảnh hưởng đến môi trường 31 lần ít hơn so với nguồn năng lượng truyền thống (là các nguồn năng lượng được khai thác từ long đất), còn 1kWh điện được sản xuất từ các NMTĐN dường như không thải ra môi trường các khí độc như SO 2, CO 2, NO… Việc vận hành các NMTĐN, cũng không liên quan nhiều đến việc sử lí rác thải, không tạo nên trận mưa axit, không làm chua đất, không làm thay đổi khí hậu, không làm thủng tầng ôzôn…

Để dùng làm đơn vị so sánh tác động đến môi trường xung quanh của các dạng nhà máy điện người ta đã đề xuất một thang điểm đánh giá. Thang điểm này được đưa ra dựa trên các nhân tố tác động đến môi trường sau đây: mức độ ảnh hưởng toàn cầu, làm thủng tầng ô zôn, làm chua đất, làm giảm nồng độ axit trong nước, làm nhiếm bẩn bởi các kim loại nặng, các nhiễm xạ gây ung thư, tạo nên sương mù trên mặt đất, tạo ra nhiều chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và làm cạn kiệt các nguồn năng lượng truyền thống khác ( than, dầu mỏ, khí đốt…). Dựa trên thang điểm này thì rõ ràng sử dụng các NMTĐN là rất ưu việt.

Việc phân loại các NMTĐN được dựa theo một vài tham số. Thông thường chúng được phân chia theo tiêu chí cần hay không cần có hồ chứa nước dự trữ. Các NMTĐN có hồ chứa nước lại được phân chia theo diện tích hồ bé hơn hay lớn hơn 1 ha. Với quan điểm bảo vệ môi trường xung quanh, ở châu Âu người ta sử dụng nhiều hơn các NMTĐN không cần hồ chứa nước dự trữ. Trong các nhà máy thủy điện loại này kênh đào dẫn nước thường dài khoảng vài kilomet, ít khi dài hơn 5km.

Để làm giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh khi xây dựng các NMTĐN, trong mỗi trường hợp cụ thể phải xem xét đến các yếu tố địa hình bản địa. Tình hình sản xuất nông nghiệp tại đó, hiện trạng của lòng sông, các đặc trưng có sẵn khác để đề xuất phương án thiết kế thích hợp. Trong nhiều trường hợp hoặc cần tích nước dự trữ, hoặc cần tạo ra thủy lực học vẫn phải xây dựng các đập nước, mặc dù quan điểm làm giảm thiểu các hồ chứa nước vấn được xem là biện pháp tích cực nhằm làm giảm tác động xấu đến môi trường tự nhiên.

Thủy điện nhỏ ở Tây Ban Nha.

Việc phát triển các năng lượng tái sinh ở Tây Ban Nha đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đất nước phù thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu: từ 70% hiện nay và cho đến năm 2020 theo dự kiến sẽ là 85%. Theo các số liệu được công bố vào ngày 31/12/1999, ở Tây Ban Nha đã có 662 NMTĐN với tổng cong suất vào khoảng 1,3 GW. Các NMTĐN này cung cấp một lượng điện đủ dùng cho hơn 1,1 triệu hộ dân cư đồng thời trong mỗi năm sẽ tiết kiệm được khoảng 250 ngàn tấn nhiên liệu và giảm thiểu một lượng khí CO 2thải ra môi trường khoảng 2,6 triệu tấn.

Thủy điện nhỏ ở Đức

Phần nhiều các NMTĐN ở Đức được xây dựng ở vùng đồi núi, cách xa các vùng đông dân cư. Tuy nhiên các thác nước (tự nhiên hay nhân tạo) giúp tạo nên nguồn điện cũng có thể tìm thấy ở vùng đông dân cư.

Dự án nhà máy thủy điện “Biphig” là có một không hai trên thế giới bới thiết kế của nó, để giảm bớt tiếng ồn, các chi tiết của tua bin đã được chế tạo từ các hợp kim đặc biệt có tính giảm thanh. Để không làm bẩn nước, trong tua bin sử dụng các linh kiện không cần bôi trơn khi hoạt động và để kiểm tra hiệu suất của các tua bin của nhà máy nói trên người ta đã dự trù đến phương án kiểm tra từ xa.

Thủy điện nhỏ ở Anh

Các công ty Anh quốc là những nhà chuyên nghiệp trong việc sản xuất, lắp đặt và bảo trì các NMTĐN ở trong nước và trên thế giới. Sự phát triển nhanh chóng nghành thủy điện ở nước này bắt đầu vào những năm 90 của thế kỷ trước nhờ vào việc phát hành trái phiếu hỗ trợ nghành khai thác nhiên liệu (NFFO – Non Fossil Fuel Obligation). Các nhà sản xuất tua bin cũng như các công ty sử dụng chúng trong các dự án đã nhận được sự ưu tiên đặc biệt ở trong nước và đã phổ biến các kinh nghiệm thu được của mình ra nước ngoài. Các định chuẩn về môi trường và xây dựng của Anh quốc đã đưa đến sự bảo đảm cao về chất lượng cho việc xây dựng, vận hành các NMTĐN đồng thời làm giảm thiểu tác động đến môi trường.

Thủy điện nhỏ ở Liên Bang Nga.

Vào giữa thế kỷ trước ở Liên Bang Nga một số lượng lớn các NMTĐN đã được xây dựng. Tuy nhiên sau đó người ta đã quan tâm hơn đến các nhà máy thủy điện quy mô lớn, và dẫn đến mất dần cá NMTĐN. Hiện nay, NMTĐN đã được quan tâm trở lại. Điều kiện tự nhiên ở đây cũng thuận lợi cho việc phát triển TĐN. Nước Nga có hơn 2,5 triệu các song suối nhỏ với tổng lưu lượng nước vào khoảng 1000 m3 trong một năm. Theo đánh giá của các chuyên gia với điều kiện tự nhiên như vậy có thể nhận được lượng điện từ TĐN đến 500 tỷ kWh trong một năm.

Các công ước hậu thuẫn cho thủy điện nhỏ

Các dự án xây dựng NMTĐN đòi hỏi một sự đầu tư đáng kể, đồng thời thời gian hoàn vốn thong thường vào khoảng 10 năm. Chỉ có một số các nước của EU có các biện pháp đặc biệt để phát triển TĐN. Trong các điều kiện như vậy, không dễ có sự đầu tư của tư nhân nếu thiếu sự bảo trợ cần thiết của chính quyền nhà nước và của cộng đồng Châu Âu.

Chúng ta liệt kê ra đây các công ước phản ánh sự quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực năng lượng này.

- Công ước khung của Liên hợp quốc về vấn đề thay đổi khí hậu, định hướng bởi việc hạn chế thải CO 2( đã được hội đồng bảo an thong qua và là điều luật bắt buộc) đã tính đến vai trò đặc biệt của TĐN trong bối cảnh giảm thiểu các tác hại tạo ra từ khu vực năng lượng.

- Sách trắng về chiến lược và kế hoạch thực hiện trong lĩnh vực phát triển các nguồn năng lượng tái sinh ở Châu Âu ( tháng 11 năm 1997). Trong chương nói về thủy điện nhỏ đã đánh giá rằng đến thời điểm này mới chỉ khai thác được khoảng 20% tiềm năng kinh tế của TĐN. Ngoài ra nhiều NMTĐN đã xây dựng nhưng còn chưa được vận hành. Phương hướng đến 2010 có thể bổ sung 4500 MW từ các NMTĐN là mục tiêu thực tế hoàn toàn có thể đạt được.

- Chiến dịch khởi phát tương ứng với chiến lược và kế hoạch thực hiện của châu Âu trong lĩnh vực năng lượng trong chương “vị trí then chốt” đã xác định nhiệm vụ phát triển các NMTĐN.

- Sách xanh về việc cung cấp năng lượng an toàn tại Cộng đồng châu Âu đã thiết lập mục tiêu đến năm 2010 sẽ có đến 24% năng lượng điện nhận được là năng lượng xanh (có nghĩa là các nguồn năng lượng tái sinh). Tính khả thi cau các dự án xậy dựng thêm nhà máy thủy điện quy mô lớn là rất thấp vì nó vấp phải sự phản ứng cục bộ khá mạnh. Chỉ có các NMTĐN là có viễn cảnh phát triển.

- Các nguyên tắc chủ đạo của Hiệp hội quốc tế về bảo vệ môi trường đã có sự thống nhất cao bảo đảm cho sự phát triển các nguồn năng lượng tái sinh, trong đó có TĐN được xem là vốn đầu tư cho việc bảo vệ môi trường.

Do tính ưu việt của nó, TĐN đã được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển. Ngoài các ưu điểm như vốn đầu tư không lớn, không đòi hỏi phải sử dụng các thiết bị thủy điện quá phức tạp và phải xây dựng các hồ chứa nước lớn, tiết kiệm được nguồn năng lượng điện truyền thống…, thì một ưu điểm nổi trội của loại hình này là TĐN ít làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và khả năng tự cung tự cấp điện cho các vùng sâu vùng xa, ít dân cư.

Điều kiện tự nhiên của nước ta cũng rất thuận lợi cho việc phát triển TĐN. Trong tình hình khủng hoảng thiếu năng lượng điện hiện nay do nhu càu sử dụng điện tăng nhanh thì việc cung cấp điện cho các vùng sâu, vùng xa từ nguồn điện của các nhà máy điện lớn sẽ càng khó khăn. Việc xây dựng TĐN không cần đầu tư vốn lớn, có thể tranh thủ huy động vốn từ các xí nghiệp nhỏ hay tư nhân. Bởi vậy sử dụng các kinh nghiệm của thế giới về việc phát triển TĐN ở nước ta trở nên cần thiết và cần được quan tâm hơn./.

Nguồn: Điện & đời sống, số 79, tháng 11-2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.