Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/05/2008 15:26 (GMT+7)

“Khúc sông bên lở bên bồi”

1. “Khúc sông bên lở bên bồi”, thành ngữ ấy là sự tổng kết quy luật duy trì bền vững của một dòng sông, quy luật tất yếu của tự nhiên mà con người phải khôn khéo chế ngự cho phù hợp, mềm dẻo thích nghi.

Sông Hồng là dòng sông lớn và dữ dội nhất nước ta và có lẽ cũng là dòng sông biến động mạnh trên thế giới, chỉ sau sông Hoàng Hà của Trung Quốc. Bởi vậy nhân dân ta đã lao động sáng tạo bền bỉ tích tụ hình thành hệ thống đê điều trong suốt chiều dài mười thế kỷ cho đến ngày nay, bắt đầu từ trung lưu cho đến cửa biển, nơi rộng nơi hẹp theo thế đất, thế sông bên lở bên bồi.

Với chiều dài trên một ngàn một trăm cây số, chảy trên nước ta năm trăm cây số. Từ Việt Trì nơi hợp lưu của 3 dòng sông lớn: sông Thao, sông Đà và sông Lô, xuôi về đến Hà Nội trên tám mươi cây số thì đây là khúc sông luôn biến động, thế sông thường thay đổi. Đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp bắt đầu chỉnh trị sông Hồng bằng hệ thống kè và đặc biệt sau cách mạng tháng Tám đến nay Đảng và Nhà nước ta đã tập trung cao độ cho công tác chỉnh trị sông Hồng một cách toàn diện để đưa dòng sông dần vào thế ổn định theo quy luật của nó, hạn chế thiên tai.

Có một nhà khoa học thuỷ lợi đã giành trọn cuộc đời để nghiên cứu chỉnh trị sông Hồng – Giáo sư Vũ Tất Uyên, công trình của ông đã được các thế hệ chỉnh trị sông ứng dụng, kế thừa và phát triển tạo được thế sông ngày càng ổn định, công trình khoa học đó xứng danh được nhận giải thưởng cao của nhà nước

2. Công trình Đại Thuỷ nông Bắc Hưng Hải tưới tiêu cho trên hai trăm ngàn ha đến nay đã tròn năm mươi tuổi, ít ai biết hoặc còn nhớ trước ngày khởi công công trình này ít năm, ta đã đào kênh Hưng Thái Ninh có quy mô tầm cỡ chỉ cách cửa vào sông Bắc Hưng Hải sau này chừng vài trăm mét, đào xong nước không chảy vào và công trình thất bại, dấu tích ngày nay vẫn còn. Vì vậy, công trình Bắc Hưng Hải với sự giúp đỡ của các chuyên gia thuỷ lợi Trung Quốc đã được nghiên cứu rất kỹ quy luật của dòng sông để chọn đúng điểm rơi của thế sông làm cho dòng nước chảy vào thuận nhất ít bị bồi lắng, quyết định sự thành công của công trình. Có một chi tiết cần nói thêm theo thiết kế ban đầu trong hệ thống công trình còn có công trình cống chắn cát ngay cửa sông dẫn nước vào để chống bồi lấp, các chuyên gia phân vân về hiệu quả và sự cần thiết nên đã đưa ra một giải pháp làm công trình tạm thử nghiệm bằng hệ thống cọc bê tông và phên nứa chắn cát. Sau vài năm thử nghiệm thấy giải pháp công trình là không cần thiết, cách làm thận trọng và đơn giản đã loại bỏ được một hạng mục công trình lớn mà theo thời giá ngày nay cũng đến cả trăm tỷ đồng. Đó là những kinh nghiệm đáng cho chúng ta nghiền ngẫm.

3. Hệ thống sông Hồng và các chi lưu của nó có một dòng sông chết, đó là sông Đáy có cửa vào tại Hát môn, nơi ghi dấu tích bi hùng của Hai Bà Trưng. Do quy luật vận động của dòng sông mà cửa Hát môn bị bồi lấp nên mùa kiệt không có nước chảy vào. Vì vậy các kĩ sư Pháp đã xây đập phân lũ Sông Đáy vào những năm ba mươi của thế kỉ trước vừa ngăn lũ thấp để tạo cho vùng hạ du tiêu được nước mùa mưa, và khi gặp lũ lớn thi phân lũ để bảo vệ thủ đô Hà Nội. Tiếc rằng công trình đồ sộ ấy từ khi xây dựng đến nay đã trên bảy mươi năm chưa một lần vận hành thành công. Sau lũ lịch sử năm 1971 ta đã cải tạo lại công trình này. Rồi ý tưởng làm sống lại dòng sông Đáy đã nung nấu trong nhiều thế hệ thủy lợi. Thời ông Nguyễn Cảnh Dinh làm Bộ trưởng Thủy lợi đã để tâm đến vấn đề này, song vì quy luật bồi lấp của cửa Hát Môn rất phức tạp nên đã có hướng chọn vị trí công trình tiếp nước vào sông Đáy ở thượng nguồn sông Tích tại Bến Mắm, Sơn Tây. Đến đầu thế kỷ này Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quyết định hệ thống công trình tiếp nước vào sông Đáy có tên là cống Cẩm Đình ngay tại cửa Hát Môn nơi mà Bộ Thủy lợi trước đây “sợ”, nhiều cán bộ thủy lợi lâu năm cũng đã có can ngăn đến Bộ trưởng, nhưng rồi công trình vẫn được đầu tư với số vốn cả trăm tỷ đồng, nay công trình chưa xong đã thấy hai lưỡi cát bồi chắn trước cống. Khúc sông, bên lở, bên bồi và bài học kinh nghiệm cẩn trọng ở công trình Bắc Hưng Hải lại nhắc nhở chúng ta.

4. Mấy năm nay, về mùa khô nước sông Hồng tại Hà Nội ngày càng cạn kiệt, tháng 3 năm 2006 mực nước 1m36 được coi là mực kiệt lịch sử một trăm năm qua, thế rồi mùa khô năm 2007 lại xuống mức 1m12 và rồi tháng 2 năm Mậu Tý này cạn xuống chỉ còn 0,8m. Người Hà Nội qua cầu Long Biên không còn nhìn thấy dòng sông Hồng cuộn chảy ngàn năm nữa! Giao thông đình trệ, các cửa lấy nước không có nước chảy vào! Một khi các nhà máy thủy điện vận hành với mục tiêu đảm bảo có lợi nhất về điện và còn có tác động của các nhà máy thủy điện của Trung Quốc ở Thượng nguồn nữa thì dòng chảy sinh thái sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sự cực đoan này do chính con ngườii tạo ra, tần suất lịch sử không còn ý nghĩa nữa. Và theo quy luật, dòng sông sẽ tạo lại thế cân bằng mới, các biến đổI về luồng lạch về sự bồi xói sẽ diễn ra phức tạp đe dọa đến sự bền vững của hệ thống đê điều cũng như các nhu cầu kinh tế dân sinh khác. Đã đến lúc phải có sự đối xử bình đẳng trong mọi hoạt động kinh tế xã hội sinh thái để đảm bảo cho sự sống trường cửu của dòng sông.

5. Dự án thành phố sông Hồng do các chuyên gia Hàn Quốc lập đang được sự quan tâm của dư luận thủ đô và cả nước, các ý kiến ủng hộ cũng nhiều và phản bác cũng lắm.

Cái hay nổi trội của dự án là tìm ra hướng đột phá tích cực để hình thành một khu đô thị hiện đại, tăng được khả năng thoát lũ xóa đi tất cả sự manh mún, lộn xộn, hỗn tạp và cản lũ của một vùng dân cư vốn được hình thành do sự buông lỏng quản lý của chúng ta. Đó là mặt tích cực cần phát huy để hoàn chỉnh dự án sớm được thực hiện.

Song còn quá ít sự am tường cặn kẽ về đặc thù cấu tạo của đoạn sông này và những hệ lụy của dự án chưa được tính đến một khi mới nhìn ở góc hẹp của kiến trúc đô thị và thoát lũ.

Bốn mươi KM sông Hồng chảy qua Hà Nội chứa đựng biết bao điều kỳ bí của thiên nhiên với vai trò điểm chốt quyết định đến hình thái của toàn bộ hệ thống sông Hồng từ trung lưu đến hạ lưu, lan tỏa sang cả hệ thống sông Thái Bình bởi phân lưu sông Đuống, nguồn nước có tính quyết định cho hệ thống sông này; bởi các kè chỉnh trị sông có vai trò quyết định sự ổn định của lòng sông, thế sông phần lớn nằm ở đoạn này.

Bãi giữa Sông Hồng là một thực thể trường tồn vĩnh cửu của thiên nhiên, nhưng lại xem nó như một vết sẹo làm xấu đi vẻ hùng vĩ của sông Hồng mà có lúc người ta nghĩ có thể đem sức mạnh của thời đại để đào bỏ nó đi, hay như dự án Sông Hồng đào gọt và bọc cứng cải tạo lại thật đẹp để hình thành công viên sinh thái.

Thiên nhiên hình thành bãi giữa Sông Hồng như là cái nêm để chỉnh trị để điều tiết linh hoạt quy luật biến động của dòng chảy Sông Hồng ở điểm chốt quan trọng nhất này. Điều tiết sự phân lưu phù hợp vào sông Đuống, điều tiết hình thái dòng chảy, thế sông phía hạ du. Để đảm bảo cho luồng lạch vận tải và cảng sông tại Vĩnh Tuy, các chuyên gia vận tải thuỷ cũng chỉ làm hệ thống kè mềm (cọc bê tông và phên nứa) phía đầu bãi tại Tứ Liên.

Sự thay đổi hình thái bãi giữa làm thay đổi thế cân bằng mềm dẻo của dòng sông nên có thể sẽ làm biến động toàn bộ các cửa lấy nước tưới quyết định sự sống còn của nền nông nghiệp Đồng bằng Sông Hồng. Liệu rồi các cửa lấy nước tại trạm bơm Đan Hoài tưới cho 20 ngàn ha, cửa Ấp Bắc tưới cho 15 ngàn ha, cửa Liên Mạc tưới cho 100 ngàn ha và cửa Xuân Quan (Bắc Hưng Hải) tưới cho 200 ngàn ha có bị biến động bởi các bãi bồi mới hình thành do thế cân bằng mới của khúc sông, và từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng chục triệu nông dân và khi đó nhà nước hàng năm phải chi một khoản ngân sách lớn để duy trì hoạt động của các công trình này.

Với lượng phù sa rất lớn, thế cân bằng mới của dòng sông cũng có thể sẽ bồi lấp lại xoá đi dấu tích các bờ kè mà các nhà quy hoạch đô thị dự tính bao bọc bãi giữa mới, chứng tích các kè sông sau khi hình thành thường được phủ kín lại một lớp phù sa, có khi dấu kín trong những bãi bồi mới. (Kè Chương Dương)

Dòng sông có sức sống và hồn thiêng của nó. Đôi điều tản mạn về sự trải nghiệm với khúc sông bên lở bên bồi để chúng ta tìm đến sự hoà thuận với thiên nhiên, có cách nhìn toàn diện trong thế vận động để cải tạo, đê chinh phục một cách tốt nhất tránh cách làm cực đoan, khiên cưỡng. Hãy khôn khéo đừng để thiên nhiên nổi giận khi hãy còn chưa muộn.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.