Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 25/01/2012 12:58 (GMT+7)

Khoa học Việt Nam: một năm nhìn lại

Công bố quốc tế: thước đo năng suất khoa học

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể thể hiện qua 3 hình thức: ấn phẩm khoa học, bằng sáng chế, và đào tạo. Ấn phẩm khoa học ở đây chủ yếu là những bài báo cáo kết quả nghiên cứu được chấp nhận cho công bố trên các tập san có bình duyệt (peer review), nhưng cũng có thể kể cả sách chuyên khảo.

Nghiên cứu khoa học ngày nay đang chuyển dần đến khái niệm translational research, tức những nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế hay thương mại hoá. Do đó, Bằng sáng chế là một thước đo quan trọng để đánh giá khả năng ứng dụng và thương mại hoá khoa học. Một công trình nghiên cứu khoa học tốt có thể làm đề tài cho một số luận án tiến sĩ và thạc sĩ. Vì thế, sản phẩm của nghiên cứu khoa học, ngoài số ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế, còn có thể kể đến số nghiên cứu sinh được đào tạo.

Tuy nhiên, một trong những “sản phẩm” quan trọng của nghiên cứu khoa học là số lượng ấn phẩm khoa học được công bố trên những tập san khoa học quốc tế (gọi tắt là “công bố quốc tế”). Theo chuẩn mực chung trong cộng đồng khoa học, một công trình nghiên cứu mà chưa được công bố quốc tế thì chưa thể xem là hoàn tất. Công bố quốc tế, do đó, là một thước đo quan trọng không chỉ để đánh giá cá nhân nhà khoa học, mà tập hợp ấn phẩm còn dùng để đánh giá tình chung về hoạt động nghiên cứu khoa học.

Đó cũng là một chỉ tiêu quan trọng nhất mà các chương trình xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế thường dựa vào để đánh giá thành bại. Chẳng hạn như trong chương trình Trí tuệ Hàn Quốc Thế kỉ 21 (Brain Korea 21), Chính phủ Hàn Quốc lấy số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế làm chỉ tiêu để quyết định nên hay không nên tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Ở nước ta, trong vài năm gần đây, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng bắt đầu xem xét các công trình công bố quốc tế như là một thước đo để quyết định tài trợ cho nghiên cứu khoa học.

Ngay cả ở những nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Singapore , công bố quốc tế cũng được xem là một thước đo quan trọng không chỉ cho nền khoa học của một quốc gia mà còn cho cá nhân nhà khoa học. Mỗi năm, ở các nước trên, người ta làm những phân tích thống kê để đánh giá xu hướng nghiên cứu và so sánh với các nước trên thế giới nhằm đề ra ưu tiên cho nghiên cứu khoa học trong năm tới.

Đối với cá nhân nhà khoa học, số lượng và chất lượng công bố quốc tế là chỉ tiêu số 1 để đề bạt các chức danh khoa bảng. Do đó, để biết nghiên cứu khoa học ở nước ta đang ở vị trí nào trong vùng, chúng ta cần phải nhìn lại và so sánh với các nước trong vùng.

Công bố quốc tế từ Việt Nam năm 2011

Trong vài năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành một số phân tích về ấn phẩm khoa học Việt Nam trên tập san quốc tế. Những phân tích này cho thấy số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam có phần tăng trong 10 năm gần đây, nhưng chất lượng vẫn còn quá thấp, và phần lớn các công trình nghiên cứu vẫn còn lệ thuộc vào nước ngoài. Trong phân tích ngắn dưới đây, tôi sẽ điểm qua một số khía cạnh liên quan đến số lượng ấn phẩm, lĩnh vực nghiên cứu, và các trung tâm nghiên cứu hàng đầu ở nước ta.

Về số lượng, tính từ đầu tháng 1/2011 đến cuối tháng 11/2011, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1028 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình, mỗi tháng, Việt Nam công bố được 93 bài. Do đó, dự đoán trong năm 2011, con số ấn phẩm khoa học là khoảng 1120 bài. Nếu dự đoán này đúng thì số ấn phẩm khoa học năm 2011 thấp hơn so với năm 2010 (1280 bài).

Nhìn lại dữ liệu 5 năm qua, xu hướng số ấn phẩm có gia tăng, nhưng chưa thấy một sự “đột phá”. Năm 1990 số bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế chỉ khoảng 250 bài. Đến năm 2005 con số này tăng lên khoảng 600 bài, và đến nay thì khoảng 1000 bài. Tính trung bình, trong vòng 20 năm qua, số ấn phẩm khoa học tăng khoảng 13% mỗi năm. Tỉ lệ tăng trưởng này không cao hơn so với các nước trong vùng.

Con số ấn phẩm khoa học Việt Nam cần phải đặt trong bối cảnh toàn vùng để có một bức tranh đầy đủ hơn. Trong cùng thời gian (2011), Thái Lan công bố 4244 bài báo (tức cao gấp 4 lần Việt Nam), Mã Lai 5363 (cao hơn Việt Namgấp 5 lần), và Singapore7296 (hơn Việt Nam gấp 7 lần). Tuy nhiên, số ấn phẩm khoa học Việt Namđã vượt qua Indonesiavà Philippines (Bảng 1).

Bảng 1. Số ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế trong năm 2011 của một số quốc gia

Mĩ vẫn là nước có số ấn phẩm khoa học cao nhất thế giới, với 265,159 bài trong năm 2011. Số ấn phẩm khoa học của Mĩ cao hơn 2 lần so với số ấn phẩm của Trung Quốc, nước đang đứng thứ hai trên thế giới. Hàn Quốc với tổng số 32446 bài, đã vượt quá Úc về số ấn phẩm khoa học (20396).

Chất lượng nghiên cứu khoa học.Một thước đo về chất lượng nghiên cứu là chỉ số ảnh hưởng (impact factor - IF) của tập san. Chẳng hạn như trong y khoa và sinh học, tập san có chỉ số ảnh hưởng trên 10 có thể xem là có ảnh hưởng lớn. Đại đa số các ấn phẩm khoa học Việt Nam , ngay cả trong ngành y, chỉ công bố trên những tập san có IF khoảng 1 đến 2. Con số này cho thấy nhiều nghiên cứu khoa học của Việt Nam thường có chất lượng rất thấp, dưới trung bình khá xa.

Lĩnh vực nghiên cứu.Nhìn chung, số bài báo khoa học trong ngành y sinh học vẫn đứng đầu bảng, với 241 công trình. Sau y sinh học là toán (131 bài), vật lí (123), hóa học (110). Các ngành khoa học thuộc vào nhóm “top 10” bao gồm khoa học vật liệu (77), khoa học môi trường (65). Phần lớn những bài báo trong ngành y sinh học của Việt Nam liên quan đến các công trình nghiên cứu y tế công cộng, rất ít những công trình nghiên cứu lâm sàng hay sử dụng công nghệ cao. Xu hướng này cũng không khác mấy so với năm 2010.

Trường / viện.Khi phân tích theo trường / viện, một xu hướng thú vị xuất hiện. Viện Khoa học và Công nghệ công bố được 131 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, và với năng suất này, Viện KHCN là trung tâm đứng đầu nước về số ấn phẩm khoa học, nhưng điều này không có nghĩa là Viện KHCN có năng suất cao hơn các trung tâm và trường khác.

Các trường đại học có nhiều công trình công bố quốc tế thường là các trường phía Bắc. Các trường trong khối Đại học Quốc gia đứng vào hàng thứ hai (với 62 bài). Các trường “top 10” bao gồm: ĐH Bách Khoa Hà Nội (57), ĐH Cần Thơ (42), ĐH Sư Phạm Hà Nội (40), Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (32), Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương (20), Đại học Y Hà Nội (19), Viện Toán (17), ĐH Huế và ĐH Vinh (mỗi trường 16 bài).

Ở phía Nam, ngoại trừ Đại học Cần Thơ đứng vào hạng “top 10”, không có trường nào đứng vào hạng top 10. Ngay cả những trường “lớn” Như Đại học Bách khoa TPHCM, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Y Dược, v.v. có số ấn phẩm khoa học không đáng kể.

Năng suất.Có thể nói năng suất khoa học của các nhà khoa học Việt Nam còn rất thấp. Viện KHCN có 880 giáo sư và tiến sĩ (207 giáo sư và phó giáo sư và 673 tiến sĩ – số liệu 2008), nhưng năm 2011 chỉ công bố được 131 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình, gần 7 người giáo sư và tiến sĩ mới công bố được 1 bài báo khoa học. Thật ra, trong suốt thời gian 20 năm (1991 – 2010), Viện KHCN chỉ công bố được 785 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Nói cách khác, tính trung bình, mỗi nhà khoa học cần đến >10 năm để công bố được 1 bài báo khoa học.

Tính cả nước, hiện nay Việt Nam có khoảng 7751 giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ trong các đại học (số liệu 2008). Nhưng năm 2011 chỉ có 1028 bài báo khoa học. Do đó, tính trung bình, 8 giáo sư và tiến sĩ chỉ công bố được 1 bài báo khoa học trong vòng một năm. Năng suất này tương đương với năng suất của Viện KHCN. Ở Hàn Quốc, các đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Seoul, mỗi giáo sư trung bình công bố 4 bài một năm, cao hơn 30 lần so với Việt Nam.

Hợp tác quốc tế.Khoảng 65% những công trình khoa học của Việt Nam trong năm 2011 là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Chỉ có khoảng 1/3 ấn phẩm khoa học là thật sự do “nội lực” (tức không có sự hỗ trợ từ đồng nghiệp nước ngoài). Ba nước có hợp tác khoa học nhiều nhất với Việt Nam là Nhật (chiếm 18% tổng số công trình khoa học), Mĩ (13%), và Pháp (12%). Trong cùng thời gian, tỉ lệ hợp tác với đồng nghiệp ngoại quốc của Thái Lan là 50%; nói cách khác họ tự lực gần phân nửa trong tất cả các công trình nghiên cứu. Những số liệu này cho thấy nội lực khoa học của ta vẫn còn kém hơn các nước trong vùng.

Vài nhận xét

Những phân tích trên đây cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học Việt Nam như thể hiện qua số ấn phẩm quốc tế chưa có một bước đột phá. Hiện nay, số ấn phẩm khoa học của Việt Nam chỉ bằng 25% của Thái Lan và Malaysia, 15% của Singapore. Các nước này cũng có tỉ lệ tăng trưởng số ấn phẩm khoa học trong khoảng 15 đến 17%, nên với đà hiện nay, chúng ta khó bắt kịp các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia (chứ chưa nói đến Singapore).

Số ấn phẩm khoa học có liên quan mật thiết với chỉ số kinh tế tri thức. Trong một phân tích trước đây, 10 nước ASEAN có thể được chia thành 4 nhóm dựa trên số lượng và chất lượng của ấn phẩm khoa học. Singapore là nước dẫn đầu với kết quả cao nhất, tiếp đó là nhóm thứ hai gồm Thái Lan và Malaysia, và tiếp đó là Việt Nam, Indonesia và Philippines với thành tích trung bình; và cuối cùng là nhóm thấp nhất về kết quả nghiên cứu khoa học, gồm Kampuchea, Lào, Miến Điện và Brunei. Với tốc độ hiện nay, rất khó để Việt Nam vượt ra khỏi nhóm 3 để tiến đến nhóm 2 trong khối ASEAN.

Phân tích chi tiết hơn về lĩnh vực nghiên cứu phản ánh những nhóm chính như sau: những nước phát triển mạnh về kinh tế thì có kết quả nghiên cứu tốt về kĩ thuật công nghệ cao và công nghệ sinh học (Singapore, Thai Lan và Malaysia), trong lúc những nước nghèo hơn (như Việt Nam, Indonesia, Lào, Kampuchea, Philippines thì có thành tích cao về những lĩnh vực “công nghệ thấp” như y tế công cộng, và đối với Việt Nam là toán và vật lí lí thuyết.

Do cơ sở hạ tầng cho hoạt động khoa học yếu kém, hầu hết dự án nghiên cứu ở Việt nam tập trung vào những lĩnh vực lí thuyết hoặc công nghệ thấp như toán cơ bản, vật lí lí thuyết, và y tế cộng đồng, chưa đi sâu vào những lĩnh vực mang tính tầm vóc quốc tế như công nghệ sinh học và di truyền học.

Singapore đã và đang đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, với ngân sách chiếm từ 1,9% đến 2,5% GDP trong khoảng từ năm 2000 đến 2007, và đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa giới nghiên cứu học thuật với các doanh nghiệp. Hệ quả là, thành tựu nghiên cứu của Singapore phần lớn do đóng góp của nghiên cứu ứng dụng và công nghệ như kĩ thuật điện tử, công nghệ nano, và công nghệ sinh học.

Xu hướng này cũng nhất quán với kết quả của một phân tích gần đây cho thấy những nước kém phát triển về kinh tế có xu hướng tập trung vào những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản vốn đòi hỏi những thiết bị khoa học và công nghệ hiện đại ở mức tối thiểu.

Khoa học là động lực phát triển kinh tế. Các nước công nghiệp hóa như Hàn Quốc và Singapore nổi bật ở lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Chỉ trong vòng 20 năm, Hàn Quốc và Singapore đã trở thành một cường quốc trung về khoa học, với nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu. Chúng ta đặt mục tiêu năm 2020 là hoàn thành công nghiệp hóa với kinh tế tri thức.

Chúng ta chỉ có 9 năm nữa để thực hiện mục tiêu này, trong khi vị trí khoa học còn quá thấp. Nếu không có một sự đổi mới mang tính cách mạng trong chính sách tài trợ và quản lí nghiên cứu khoa học, e rằng vị thế của khoa học Việt Nam sẽ không thay đổi đáng kể trong vòng 10 năm tới.

(*) Bản ngắn của bài này đã đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần dưới tựa đề "Khoa học Việt Nam : để thoát khỏi nhóm trung bình trong khu vực"

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.