Kê minh thập sách trong lịch sử văn học nước ta
- Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo.
- Thất trảm sớcủa Chu Văn An.
- Vạn ngôn thưcủa Lê Cảnh Tuân.
- Bình ngô đại cáocủa Nguyễn Trãi.
Cả bốn tác phẩm ấy còn lại toàn vẹn thì chỉ có Hịch(Trần Hưng Đạo), Cáo(Nguyễn Trãi). Còn những tác phẩm của ChuVăn An thì đã thất lạc, hoặc không đầy đủ như của Lê Cảnh Tuân. Song sự nhận xét để quy vào một thành ngữ như vậy là tài tình và hợp lý. Quả thật bốn tác phẩm nói trên là rất tiêu biểu cho văn chương Việt Nam từ đời Trần cho đến đầu Lê Sơ. Cái chất trung nghĩa, làm nổi bật được tinh thần và khí thế dân tộc suốt ba thế kỷ đúng là trọn vẹn. Sức sống vô úy của hịch, công lý nghiêm minh của sớ, tình nghĩa tha thiết của thư, và tinh thần đại nghĩa của cáo, quả thực là bản sắc Việt Nam .
Song hình như cả bốn tác phẩm kể trên do yêu cầu gắn bó của từng giai đoạn lịch sử nhất định, với nhiệm vụ thiết thực của thời điểm lịch sử, mà chưa cho ta thấy hết những yêu cầu chính trị của dân tộc, trong quá trình xây dựng một đất nước thịnh cường. Loại văn chương này thật ra cũng đã thấy bóng dáng trong những tác phẩm ra đời trước đó. Một bài thiên đô chiếucủa vua Lý Thái Tổ, một bài thơ mở đầu bằng mấy chữ Namquốc sơn hà(được cho là tác phẩm của Lý Thường Kiệt) thực ra đã là những bản tuyên ngôn về yêu cầu xây dựng và bảo vệ quốc gia. Có thể vì lẽ này hay lẽ khác, chúng ta chưa sưu tầm được đầy đủ, chứ không phải là không có. May mắn, ta còn lưu giữ được bản Kê minh thập sáchmà nội dung thật là phong phú, cho ta có được một giá trị không ngờ.
Bản sách này, sở dĩ còn lại được là do công lao của Đoàn Thị Điểm (1705-1749). Cuốn sách Truyền kỳ tân phảcủa bà có bài Hải khẩu linh từ, kể chuyện Nguyễn Cơ Bích Châu, đã chép trọn vẹn bản Kê minh thập sáchnày. điều kỳ lạ là bản sách này không nhằm vào những chủ đề riêng biệt, mà nêu ra nhiều ý kiến, nhiều chủ trương bao quát được nhiều phương diện của các vấn đề quốc kế dân sinh. Nguyễn Cơ Bích Châu đã đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về: Đường lối chính trị; Đường lối văn hóa; Đường lối quân sự.
Tất cả những vấn đề lớn lao như vậy mà chỉ tóm gọn trong mười điều (thập sách). Chúng tôi có dịp hệ thống hóa lại trong bài Văn tế Chế Thắng phu nhân, đọc ngày 20-3-2005 ở đền Bà tại địa phương Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Không thể phân tích được hết, xin chép lại những câu đã được ghép thành vần quốc ngữ theo thể biền văn:
Một: phải bền gốc nước, bỏ bạo tàn cho dân chúng yên vui.
Hai: phải giữ nếp xưa, dứt phiền nhiễu để kỷ cương không rối.
Ba: phải thải quân sâu mọt, ngăn kẻ lộng quyền.
Bốn: phải trừ lũ tham ô, cho dân khỏi khổ.
Năm: phải chấn hưng phong hóa, cho xã hội sáng tươi.
Sáu: phải cho ngôn luận rộng đường, cầu người nói thẳng.
Bảy: phải chọn tướng đáng tài thao lược, chớ nể con ông cháu cha.
Tám: phải tuyển quân có sức hùng cường, đừng chuộng đẹp người đẹp mã.
Chín: khí giới phải sắc bền, không hình thức hoa hòe.
Mười: trận pháp phải chỉnh tề, chớ phô trương dối trá.
Có thể nói, mười phương sách này cho đến nay vẫn còn thiết thực với chúng ta. Kê minh thập sáchlà một đường lối an dân, luyện quân khá đầy đủ mà sâu sắc. Có thể nghĩ rằng giờ đây chúng ta đang mở rộng dân chủ, chính là đang thực hiện điều thứ sáu của Kê minh thập sách. Ta đang chống tham nhũng là đang thực hiện điều thứ ba, thứ tư. Ta đang cải cách hành chính là đang thực hiện điều thứ hai, v.v. Và bốn điều sau cùng của đường lối quân sự, thì quân đội nhân dân ta hiện nay vẫn không thể nào không quan tâm đến. Nguyễn Cơ Bích Châu vẫn còn cập nhật với chúng ta.
Có thể có một băn khoăn, vì sao một tài liệu như Kê minh thập sáchlại không có được vị trí trân trọng như bốn bản Hịch, Cáo, Sớ, Thư đã nói trên đây. Xin thử nêu ra vài gợi ý sau đây để ta cùng tham khảo:
1. Có thể tin được Đoàn Thị Điểm với câu chuyện Hải khẩu linh từdo bà thuật lại. Lịch sử ta từ thời nhà Lý đã có nhiều phụ nữ rất uyên bác, như trường hợp bà Ỷ Lan, bà Ngọc Kiều. Có một trí tuệ như Bích Châu không đáng lấy làm lạ.
2. Kê minh thập sáchra đời là hợp lý so với hoàn cảnh đương thời. Đồng thời với Bích Châu, nhà học giả ChuVăn An đã đưa lên vua Trần tờ sớ đòi chém 7 tên gian nịnh. Như vậy là tình hình chính trị nhà Trần đã rất suy thoái. Có tiếng thét đòi chém gian thần, thì phải có cả tiếng gà báo sáng. Có lối cảnh cáo ở nơi triều nội, phải có thêm lời nhắc nhủ trong chốn cung vi. Lại thêm một điều hợp lý.
3. Bản thập sách gồm mười điều, thí có đến 4 điều nói về quân sự. Như vậy là đúng với tình hình lúc Trần mạt. Ta biết rằng lúc này nhà Trần luôn luôn thua trận trong những cuộc Chiêm Thành gây hấn. Thậm chí có lúc, vua Trần phải bỏ kinh thành mà chạy. Rồi lời khuyên của Bích Châu vừa dứt thì vua Duệ Tông cũng phải bỏ mình nơi chiến địa. Bản thập sách nặng về đường lối quân sự không phải là không có nguyên nhân.
Về nguyên nhân vì sao một tác phẩm lớn lao như Kê minh thập sáchlại không được quan tâm, và sau này, kể cả khi vua Lê Thánh Tông biết đến Nguyễn Cơ Bích Châu và phong tặng cho bà, mà cũng không đề cao tác phẩm này cho xứng đáng với giá trị của nó. Có lẽ vị trí phi tần của Nguyễn Cơ Bích Châu đã khiến cho người ta không để ý đến cái tài, cái chí của bà chăng. Ngày nay, chúng ta cần đề cao, cần học tập Kê minh thập sáchcủa Nguyễn Cơ Bích Châu để trả lại danh dự cho bà, và cũng để văn học sử Việt Nam có thêm những trang rực rỡ.








