Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 04/04/2006 21:09 (GMT+7)

Hướng trường, viện vào nghiên cứu khoa học tầm quốc tế

Trong bảng xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu thế giới do Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc) công bố cách đây gần hai năm, số lượng công trình công bố trên các tạp chí quốc tế được xem như một tiêu chí trụ cột bên cạnh các tiêu chí khác về nghiên cứu khoa học.


Điều này không hề hạ thấp các tiêu chí nói lên thành tích đào tạo sinh viên và vị trí của trường đại học trong xã hội. Nó chỉ phản ánh một thực tế là khi nghiên cứu khoa học đạt trình độ cao, nhà trường mới có đủ uy tín để động viên nhiều nguồn lực tài chính trong xã hội, thầy giáo mới đào tạo được nhiều sinh viên giỏi, sinh viên ra trường mới thành đạt, số tiền mà họ mang về cho nhà trường hàng năm ngày càng nhiều..., tức cũng chính là những tiêu chí quan trọng khác nói lên uy tín của một trường đại học hàng đầu trên thế giới.


Trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang nỗ lực trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, thì tiêu chí này càng không thể không quan tâm chú ý.


Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 1.2006 có đăng một bài báo tổng kết kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả Việt Nam được công bố trên các tạp chí quốc tế trong vòng mười năm gần đây.


Đó là những bài báo (article) đăng trên hàng nghìn tạp chí khoa học được tập hợp trong cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học (ISI), Philadelphia.


Trong mười năm qua, số bài báo khoa học có địa chỉ Việt Nam xuất hiện trên các tạp chí quốc tế tăng từ 204 bài năm 1995 lên 456 bài trong năm 2004, cả thảy có 3.236 bài.


Trong số đó, quá một nửa là về toán và vật lý lý thuyết, hơn 2.400 bài (quá 3/4) là của các tác giả Việt Nam đứng chung tên với người nước ngoài, chỉ có gần 800 bài là "thuần Việt" được thực hiện chủ yếu bằng nguồn nội lực.


Số lượng quá ít ỏi này lại cứ giẫm chân tại chỗ quanh con số 80 bài mỗi năm trong suốt mười năm qua.


Đối với những người làm toán và vật lý lý thuyết có thể rất khó phân biệt công trình do nội lực và công trình đứng chung tên với người nước ngoài.


Song với các ngành thực nghiệm, ứng dụng và công nghệ, sự khác nhau giữa hai loại công trình đó sẽ rất rõ rệt xét về đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng như nỗ lực của nhà khoa học vươn lên trình độ quốc tế.


Gần đây, việc xây dựng trường đại học "đẳng cấp quốc tế" đã thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.


Khái niệm đẳng cấp quốc tế hơi mơ hồ, song ở đây chắc chắn phải nói đến trường đại học kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế. Để nhận diện đúng đắn điểm xuất phát hiện nay của chúng ta trong mục tiêu này cần xem xét kỹ hơn bức tranh nghiên cứu khoa học tầm quốc tế trong 5 năm gần đây ở các trường đại học của chúng ta.


Công trình công bố trong nước và quốc tế


Nghiên cứu khoa học ở Trung tâm Công nghệ Sinh học-ĐH Quốc gia Hà Nội

Nghiên cứu khoa học ở Trung tâm Công nghệ Sinh học-ĐH Quốc gia Hà Nội

Theo cơ sở dữ liệu của ISI, trong 5 năm gần đây, từ 2000 đến 2004, có cả thảy 2.242 bài báo từ địa chỉ Việt Nam đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.


Trong số này, có 1.796 bài (80%) do người Việt Nam viết chung với các tác giả nước ngoài, 450 bài còn lại là của tác giả Việt Nam nghiên cứu chủ yếu bằng nguồn nội lực tại các cơ sở trong nước. Số công trình do hợp tác quốc tế tăng theo quy luật hàm mũ, gần gấp đôi sau 5 năm, trong khi đó số công trình do nội lực chỉ quanh quẩn ở khoảng 89 bài mỗi năm.


Số lượng bài báo quốc tế trên đây rất khiêm tốn so với số công trình khoa học công bố ở trong nước.


Theo Sách KH&CN Việt Nam 2004 do Bộ KH&CN xuất bản, tổng số công trình đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội nghị, hội thảo trong nước tăng từ 7.669 bài năm 2003 lên 8.408 bài năm 2004, cao hơn số lượng bài báo quốc tế 15-18 lần. Sự chênh lệch này còn lớn hơn rất nhiều đối với một số ngành như công nghệ và đặc biệt là khoa học xã hội nhân văn (xem bảng 1).


Bảng 1: Số lượng bài báo khoa học công bố trong nước

(Nguồn: KH&CN 2004, Bộ KH&CN)

Ngành

2003

2004

Số lượng

%

Số lượng

%

Khoa học xã hội và nhân văn

3.628

47,3

4.345

51,7

Khoa học tự nhiên

  868

11,3

 702

8,4

KHCN

1.495

19,5

1.312

15,6

Y dược

785

10,2

1.111

13,2

Nông - Lâm - Ngư

893

11,7

938

11,1

Tổng cộng

7.669

100

8.408

100

Nghiên cứu khoa học tầm quốc tế ở các viện và trường đại học

Tỷ lệ số bài báo quốc tế do nội lực giữa trường đại học và viện nghiên cứu trong 5 năm 2000-2004 là 179/271 (66%).


Nếu xét trong mười năm (1995-2004) thì tỷ lệ này thấp hơn, cụ thể là 257/458 (56%), chứng tỏ các trường đại học đang vươn lên trong những năm gần đây. Nhưng cũng chỉ mới tập trung vào hai lĩnh vực toán và vật lý lý thuyết.


Bảng 2 giới thiệu thành tích của các trường đại học.


Các ngành khoa học ở đây được phân chia dựa theo ISI, trừ trường hợp các nghiên cứu về vật liệu từ và siêu dẫn được ghép vào vật lý, chứ không phải "khoa học vật liệu" như ISI, vì những nhà nghiên cứu về hai lĩnh vực này đều nằm trong các khoa vật lý.


Số bài báo quốc tế về toán và vật lý chiếm 77% tổng số bài báo từ các trường đại học Việt Nam. Số người làm toán và vật lý ở trình độ cao có mặt ở rất nhiều trường đại học, kể cả những trường ít tên tuổi như Sư phạm Quy Nhơn, Đại học Hồng Đức - Thanh Hoá.


Chuyên ngành vật lý thực nghiệm tuy đòi hỏi thiết bị hiện đại và đầu tư kinh phí cao cũng đã có chỗ đứng trên mặt báo quốc tế. Nổi bật nhất là hai phòng thí nghiệm vật liệu từ và nhiệt độ thấp thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhưng đại đa số các trường đại học khác vẫn chưa vào cuộc trên các sân chơi quốc tế.


Bảng 2: (Nhấn vào hình)Số bài báo quốc tế/tổng số lần trích dẫn dùng nguồn nội lực từ các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn 2000-2004 (Nguồn: ISI)


Bảng 3 giới thiệu thành tích của các viện nghiên cứu. Về số lượng bài báo, Viện Toán vẫn dẫn đầu, tiếp theo là các Viện: Vật lý, Cơhọc và Năng lượng Nguyên tử. Nếu xét tổng số lần được trích dẫn, thì thứ hạng sắp xếp trong tốp này sẽ là Viện Vật lý, Toán, Năng lượng Nguyên tử và Cơ học.


Bảng 3: Số bài báo quốc tế và tổng số lần trích dẫn dùng nguồn nội lực từ các viện nghiên cứu Việt Nam trong 5 năm 2000-2004 (Nguồn: ISI)

Tên Viện

Số bài

Số lần được trích dẫn

Viện KH&CN Việt Nam:

Viện Toán

92

96

Viện Vật lý (Hà Nội + Tp Hồ Chí Minh)

53

111

Viện Cơ

35

38

    Viện Vật liệu

17

22

    Viện Công nghệ Thông tin

5

5

    Viện Công nghệ Sinh học

4

2

    Viện Sinh học Đà Lạt

4

13

    Các viện khác thuộc Viện KH&CN Việt Nam

7

6

Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam

21

51

Các viện Y Dược trong cả nước

13

20

Các viện khác trong cả nước

20

3

Tổng cộng

271

367


Nhìn chung, bức tranh nghiên cứu khoa học tầm quốc tế ở nước ta hiện đang mất cân đối, nghiêng về lý thuyết nhiều hơn thực hành, ứng dụng.


Hai ngành toán và vật lý mạnh hơn hẳn các ngành khác; nhưng ngành vật lý lại cũng chỉ tập trung ở một vài viện nghiên cứu và một khoa của trường đại học; nghiên cứu công nghệ còn quá khiêm tốn, khoa học xã hội và nhân văn chiếm 50% các ấn phẩm công bố trong nước lại hầu như không thấy mặt trên các tạp chí quốc tế...


Nghiên cứu khoa học tầm quốc tế tại các trường đại học còn quá ít so với các viện, hoàn toàn không tương xứng với đội ngũ giảng viên đông đảo và sứ mạng đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất nước.


Tập trung nghiên cứu khoa học về các trường đại học tiên tiến, xây dựng ở đó những tập thể nghiên cứu tầm quốc tế, là việc làm sống còn của cả nền giáo dục và KH&CN nước nhà hiện nay. Vì nếu không nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế, đất nước sẽ không có nền giáo dục tiên tiến, trường đại học vẫn cứ tụt hâu.


Và công nghệ, điều mà nhiều người mong mỏi để sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cũng chẳng có nốt...

Nguồn: vnn.vn 3/4/2006

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.