Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo
Có thể khẳng định rằng với việc nhập các giống cao sản như trên, ngành chăn nuôi đã đạt nhiều thành tựu qua việc sản xuất ra các giống thuần và đã lai tạo với các giống trong nước để sản xuất ra đàn vật nuôi có năng suất và chất lượng tốt hơn hẳn con nội. Tuy vậy, bên cạnh những thành công chúng ta lại phải đương đầu với những loại bệnh mới do những gia súc ngoại nhập này mang vào. Đối với các bệnh mới này chúng ta chưa hề biết về nó nên việc phòng trị thường không mang lại hiệu quả và chính điều đó đã gây nhiều thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi.
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu về "hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo" (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome).Đây là một bệnh rất khó chịu, không có thuốc điều trị đặc hiệu, không có vaccin phòng ngừa, nó gây tổn thất rất nặng nề cho người chăn nuôi, đặc biệt là đối với đàn gia súc có gốc nhập nội và ở các mô hình nuôi trang trại với các qui mô nuôi vừa và lớn. Vì vậy trong bệnh nầy rất đáng quan tâm
I/ LỊCH SỬ BỆNH:
Vào cuối năm 1980 đã có những báo cáo về bệnh nhưng chưa biết nguyên nhân. Bệnh có tính chất khác thường, vì tính trầm trọng, kéo dài, kết hợp giữa 2 triệu chứng sinh sản và hô hấp. Do chưa tìm ra được căn nguyên nên lúc bấy giờ người ta gọi là "Bệnh thần bí ở heo". Đến năm 1990 bệnh đã xảy ra nhiều ở Bắc Mỹ, Đức, sau đó thông tin về bệnh này ở Châu Âu bắt đầu tăng lên nhanh chóng. Vì bệnh lan ra nhanh và lúc đầu chưa tìm ra tác nhân gây bệnh nên bệnh này được gọi bằng các chữ đầu mô tả triệu chứng bệnh: đó là "hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo".Ở Đông Nam Á chưa có số liệu điều tra về tỉ lệ lưu hành virus chính thức, nhưng qua các thông tin đều thấy rằng bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước, nguyên nhân chủ yếu do đưa mầm bệnh từ nước ngoài vào. Ở Việt Nam bệnh phát hiện đầu tiên năm 1997, trên đàn lợn nhập từ Mỹ. Trong báo cáo gần đây của Trung Tâm thú y vùng thành phố Hồ Chí Minh đã điều tra huyết thanh học bệnh PRRS bằng phản ứng ELISA. Kết quả cho thấy 5 tỉnh thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang và Vĩnh Long đều có heo có phản ứng dương tính.
II/ NGUYÊN NHÂN BỆNH:
Gây ra bệnh này do nhiều virus viêm não và cơ tim (Encephalomyocarditis), và virus có tên là Lelystad là nguyên nhân gây ra bệnh ở Châu Âu, thuộc họ Togaviridae, là virus ARN.
III/ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi với triệu chứng bỏ ăn, sốt cao ở thời kỳ đầu.Tai, bụng, âm hộ màu hơi xanh vì vậy nên có nơi còn gọi bệnh này là bệnh tai xanh.
Đối với heo mang thai sẽ bị sẩy thai, hoặc có thai khô, hoặc từng phần của thai bị phân hủy. Heo đã đẻ thì tăng tỉ lệ chết sơ sinh, heo con sinh ra yếu, thở khó, ỉa chảy. Giai đoạn này bệnh sinh sản kèm theo bệnh hô hấp từ mức độ trung bình đến mức độ nặng. Ở heo con sơ sinh và cai sữa, thường gặp thở khó, thở nhanh thể bụng, tỷ lệ phát triển dưới mức bình thường. Ở heo cai sữa tỷ lệ mắc có thể cao đến 30%, tỉ lệ chết 5 – 10%. Trong một đàn bệnh có thể kéo dài 6 -12 tuần. Đối với heo đực giống trong giai đoạn cấp tính, ngoài các triệu chứng chung còn biểu hiện giảm tính hăng, tỉ lệ từ chối phối giống tăng từ 2% - 12%, tinh dịch loãng, mật độ tinh trùng giảm, tăng tỷ lệ tinh trùng kỳ hình. Bệnh đặc trưng bởi sốt, thở nhanh, thở khó và chậm lớn ở heo con theo mẹ đến 4 tháng tuổi. Ho không phải là triệu chứng điển hình. Những con sống sót phát triển không bình thường. Điều tra về lâm sàng ở Hà Lan thấy đến 50% heo biếng và bỏ ăn, 10% sốt, 5% tím tái và 30% trở ngại hô hấp.
IV/ BỆNH TÍCH:
Không có bệnh tích đặc trưng ở heo nái. Ở phổi thấy có viêm hoại tử đặc trưng ở những đám chắc đặc ở thùy đỉnh, thùy giữa, thùy phụ và nửa dưới của thùy hoành. Thùy bị bệnh màu xám đỏ, có mũ và đặc chắc (nhục hóa). Trên mặt cắt ngang, những thùy bệnh lồi ra và trông mô phổi giống như tuyến ức. Về tổ chức học thường gặp dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm. Trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào. Cũng có thể gặp viêm phế quản phổi hóa mũ.
V/ CHẨN ĐOÁN:
Thể sinh sản của bệnh phải được phân biệt với các nguyên nhân khác gây sẩy thai, chết non và heo con sinh ra yếu. Đó là các bệnh Lepto, viêm não và cơ tim, virus giả dại, virus Parpo và virus dịch tả.
Chẩn đoán xác định đòi hỏi điều tra dịch tể học của đợt dịch bao gồm phân tích chi tiết các số liệu ghi chép về sản xuất và phối giống trong vài tháng trước đó, lấy mẫu huyết thanh và mô gởi đi chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Trong vòng 14 ngày nếu gặp 2 trong 3 chỉ tiêu sau thì việc chẩn đoán PRRS được coi như là đúng: - Sẩy thai, đẻ non vượt quá 8%; - Chết thai vượt quá 20%; -Heo con chết trong vòng đầu tiên vượt quá 25%.
VI/ PHÒNG TRỊ:
Không có điều trị đặc hiệu với với virus PRRS. Phần lớn can thiệp bằng việc tăng cường nâng cao sức đề kháng của con vật cho đến khi triệu chứng lâm sàng cấp tính lắng dịu xuống. Tập trung vào việc ngăn ngừa và điều trị nhiễm khuẩn kế phát. Ít có phác đồ điều trị hiệu quả. Những điều trị đưa ra sau đây để tham khảo, không có báo cáo về hiệu quả của nó: • Điều trị heo nái trong giai đoạn chữa cuối với protaglandin (là một chất kích thích co bóp cơ trơn tử cung và các cơ trơn khác có khả năng làm giảm huyết áp, điều chỉnh tiết dịch dạ dày, thân nhiệt) như axit acetylsalicylic để giảm sốt và kéo dài thời gian mang thai trong tháng đầu ổ dịch • Điều trị heo nái với kháng sinh như Chlortetracyline bổ sung trong thức ăn những tháng đầu tiên của ổ dịch để ngăn cản nhiễm kế phát • Chuyển sang thức ăn có năng lượng cao cho heo nái và heo thịt trong giai đoạn ăn ít • Phối giống chậm lại ít nhất 21 ngày đối với heo sau khi đẻ và phối giống chủ động giảm tỷ lệ đẻ đối với heo hậu bị trong thời gian bị dịch • Đảm bảo sữa đầu cho heo con sinh ra yếu • Điều trị tiêu chảy cho heo con mới sinh với kháng sinh và chất điện giải • Bấm tai, cắt đuôi và thiến heo đực chậm lại trong thời gian cấp tính • Duy trì vệ sinh nghiêm ngặt. Các chất sát trùng Virkon và Farm Fluid S bán ngoài thị trường đã được thử nghiệm chống lại virus PRRS và các virus có vỏ bọc khác khá hiệu quả • Duy trì chiến lược cùng nhập cùng xuất đối với việc chu chuyển đàn, điều này không ngăn chặn được virus lây lan nhưng giúp khống chế nhiễm trùng kế phát • Giảm tái lập đàn.
Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long (số 45, tháng 06/2005)








