Hoa đào - dấu ấn của lịch sử
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Tuy vậy, ai cũng biết ở đây tác giả Truyện Kiềumượn tứ thơ của Thôi Hội đời Đường bên Tàu, để biểu tả nỗi lòng Kim Trọng về thăm lại cảnh cũ chốn xưa. Chỉ có điều, sự tích dẫn đến lời bài thơ Đề đô thành Nam Trangcủa Thôi Hội thì đượm chất liêu trai, còn “hoa đào năm ngoái” của Nguyễn Du thì rồi sẽ là nỗi đau kéo dài, dày vò trái tim con người, khiến có lúc nhà thơ phải văng ra những lời phẫn nộ “Chém cha cái số hoa đào, Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi”!
Sự tích dẫn đến bài thơ của Thôi Hội như sau: nhân dạo chơi ở phía nam thành Lạc Dương, trông thấy một khuôn viên trồng đào. Hoa đương nở rất đẹp, Thôi Hội đến gõ cửa xin nước uống. Một cô gái đẹp bước ra, đứng vịn cành đào để trao cho chàng ly nước, má nàng ửng hồng cũng cùng một màu với sắc đào tươi thắm. Nhận lấy từ tay người đẹp, chàng uống cạn ly nước để rồi phải ngẩn ngơ từ biệt cho mãi đến tiết Thanh Minh năm sau mới trở lại để mong gặp lại giai nhân. Thất vọng vì cổng đóng then cài, chàng lấy giấy bút viết bài thơ dán trên cánh cổng rồi thẫn thờ cất bước trong nỗi niềm “đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời”! Và rồi không cưỡng lại được nỗi nhớ nhưng, vài ngày sau chàng si tình quay trở lại để đau đớn biết rằng, sau khi đọc bài thơ của mình, người đẹp đã mắc chứng tương tư, mất ăn mất ngủ để lâm bệnh và vừa qua đời. Tuyệt vọng, chàng xin được nhìn mặt nàng lần cuối. Và lạ thay, khi giọt nước mắt tình si khóc than người đẹp nhỏ xuống thì nàng đã sống lại! Sau đó họ nên duyên vợ chồng. Câu chuyện lãng mạn và nên thơ đó là gốc gác của bài thơ Đề đô thành Nam Trangcó thể là một trong những bài thơ được xuất hiện sớm nhất về hoa đào:
Khứ niêm kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cự tiếu đông phong.
![]() |
Thật ra thì hoa đào, chủ đề được ưa thích, không chỉ có với bài thơ của Thôi Hội xuất hiện vào thế kỷ thứ VII, dưới thời Đường Đức Tông (780 – 805), mà là đề tài của nhiều tuyệt tác Đường thi. Trước Húc (713 – 763) là một ví dụ. Trông thấy hoa trôi theo dòng nước mà nhớ đến Đào hoa nguyên kýcủa Đào Tiềm (365 – 427) cảm xúc viết nên tuyệt tác Đào hoa khê(Suối hoa đào).
Ẩn ấn phi kiều cách dã yên,
Thạch ky tây bạn vấn ngư thuyền.
Đào hoa tận nhật tùy lưu thủy,
Động tại thanh khê hà xứ biên?
Khương Hữu Dụng dịch:
Thấp thoáng cầu treo cách khói đồng,
Bờ tây ghềnh đá hỏi ngư ông
Hoa đào trôi mãi theo dòng nước,
Động ở bên nào mé suối trong?
Hoặc Vương Duy (701 – 761) với tuyệt tác Tức phu nhânđể nói về thân phận người đẹp Tức Vĩ, trong dân gia thì gọi là Đào hoa phu nhân:
Mạc dĩ kim thời sủng,
Năng vong cựu nhật ân.
Khán hoa mãn nhãn lệ,
Bất cộng Sở Vương ngôn.
Tạm dịchlaf:
Đâu phải vì sự sủng ái bây giờ,
Mà có thể quên được ân tình ngày xưa.
Ngắm hoa mà lệ chứa chan đôi mắt,
Không nói một lời nào với vua Sở.
Chuyện kể rằng: Sở Văn Vương biết nàng Tức Vĩ, vợ của Tức Hầu, là một tuyệt thế giai nhân mà đôi má hồng như ánh hoa đào, nên rắp tâm chiếm đoạt, bèn bàykees tuần du sang nước Tức Tức Hầu phải mở tiệc nghênh đón. Sở Văn Vương đòi nàng Tức Vĩ dâng rượu. Nàng phải ra rót rượu, nhưng không tự mình dâng lại trao cho một cung nữ dâng rượu lên vua Sở. Mượn cớ, Sở Vương ghép tội Tức Hầu, bắt giữ, để rồi chiếm đoạt vợ. Nàng định tuẫn tiết, nhưng một tướng nước Sở ngăn cản mà rằng “Phu nhân không muốn cứu chồng sao?”, rồi đưa nàng nộp cho Sở Vương. Tức Hầu hận mà chết. Tuy bị cưỡng bức sống với Sở Vương, đã có hai mặt con với người bức hại chồng mình, Tức Vĩ suốt đời không nói một lời với Sở Vương. Người nước Sở cảm thương tấm lòng của nàng, khi nàng mất đã lập miếu thờ, gọi là “Đào hoa phu nhân miếu”.
![]() |
Có người cho rằng, từ thân phận éo le và đau thương của nàng Tức Vĩ mà dân gian thì tôn là “Đào hoa phu nhân” nên mới từ đó khái quát nên thân phận mỹ nhân, mồi ngon của những dục vọng cường quyền độc ác dâm ô, là “đào hoa bạc mệnh’. Cái “số hoa đào” trong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du dẫn ra ở trên chắc cũng từ gốc gác đó. Và liền sau nỗi phẫn uất buộc phải văng ra để “chém cha cái số hoa đào” ấy là một chuỗi những đúc kết đắng cay “Nghĩ đời mà ngán cho đời, Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Đó là sự đúc kết một nghịch lý quen thuộc của đời người, trước hết là của những hồng nhan đa truân, những tài hoa mệnh bạc.
Nhưng sao không là hoa sen, hoa huệ, hoa tường vi, hoa cẩm chướng, không là “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” mà cứ phải hoa đào cơ chứ? Cái số “hoa đào” sao mà nghiệt ngã làm vậy, nghiệt ngã đến độ thi nhân không kìm được sự đau xót phẫn uất, buộc phải nặng lời. Nhưng ngẫm kỹ ra, đó là nặng lời với người chứ đâu phải nặng lời với hoa. Nỗi đau của hoa chính là nỗi đau của người đó thôi. Xem ra tài hoa mệnh bạc là chuyện không mấy hiếm hoi. Nhưng nguyên cớ gì mà lại cứ ghép hoa đào vào, để rồi phải nặng lời mà văng ra với hoa: “Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rổi lại buộc vào như chơi”?
Ấy thế mà nỗi đau văng ra được như người thơ kia không kìm được sự phẫn nộ vì đau xót cho thân phận con người, cho mối quan hệ giữa người với người, thì cũng đành một nhẽ. Đằng này, nỗi đau chỉ như chất axit gậm nhấm những suy tư về cái chuyện “Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi” với những lời hoa mỹ đặt cạnh những việc làm bẩn thỉu, mà vì lịch sử không “văng” ra cho hả, thì cũng phải thanh tao mà nhắc lại lời của cụ Khổng: “Tiên hành kỳ ngôn, nhi hậu tòng chi” ( Làm trước điều mình muốn, rồi hãy nói sau, Luận ngữ,Vi Chính). Bởi lẽ vị “vạn thế sưu biểu” ấy từng phẫn nộ mà thâm trầm nhắc nhở người đời đừng có nhẹ dạ tin vào những lời nói mỹ miều, mà hãy nhìn vào hành động: “Thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã” ( Việc đó nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được, Luận ngữ,Bát Dật).
Có một huyền thoại về cành đào Nhật Tân mà người Hà thành dành để kể về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: cành đào Nhật Tân của vua Quang Trung tặng công chúa Ngọc Hân. Các bậc trưởng lão trong làng Nhật Tân kiêu hãnh và cảm động kể chuyện về cành đào tự tay nhà vua chọn tại một vườn hoa ngoại thành Thăng Long, (mà các cụ cứ dứt khoát rằng “là làng Nhật Tân ta đây (?) chứ còn đâu khác”) còn đang vương mùi khói súng của ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu năm 1789, rồi lệnh truyền cho ngựa trạm tức tốc phi về Phú Xuân để tặng người vợ yêu của mình, giúp nàng vơi đi nỗi nhớ Hà Nội. Cành đào màu đỏ thắm ấy sẽ cùng với sắc vàng lộng lẫy của cành mai xứ Huế, sẽ càng điểm tô cho mối tình để rồi cho ai đó suy nghĩ về lời bình “Minh quân lương tướng tao phùng dị, Tài tử giai nhân tế ngộ nan”.
![]() |
Một cành đào khác được vị tướng huyền thoại của Việt Nam đương đại kể lại trong hồi kỳ của mình: Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ về những ngày Hà Nội của một giai đoạn lịch sử hào hùng với “đêm ra đi đất trời bốc lửa, cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Chính Hữu) vào 12 – 1946: “Tết Đinh Hợi (1947) mở đầu cho nhiều cái tết tiếp theo. Tiếng súng ở mặt trận đã thay cho tiếng pháo mừng xuân. Đồng bào ở giáp mặt trận vẫn có mâm cơm cúng gia tiên chiều tất niên, nén hương thắp trên bàn thờ lúc giao thừa, và đặc biệt không quên những chiếc bánh chưng, cây giò, gói mứt gửi người đang chiến đấu ở mặt trận. Các chiến sĩ Liên khu 1 nhận được cả một cành đào Tết Nhật Tân và những bó hoa tươi. Đêm 30 Tết, họ mở một đợt tiến công ở nhiều nơi trong thành phố và cắm cờ đỏ sao vàng trên Tháp Rùa để khẳng định sự có mặt của mình tại Thủ đô” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tập Hồi ký. Nxb QĐND, 2006, tr 402).
Cành đào Nhật Tân trong hồi ký của vị tướng huyền thoại này sẽ đi vào lịch sử, lịch sử dân tộc và lịch sử Hà Nội nghìn năm tuổi, một Hà Nội của “máu và hoa”. Trong nghìn năm tuổi ấy, Hà Nội từng chứng kiến bao nhiêu cảnh “tạo hóa gây chi cuộc hí trường”, từng để lại “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (thơ Bà huyện Thanh Quan), đã từng day dứt tâm trạng những người cả tin rằng “câu sấm tiền triều phi chiến địa, đâu rồi ôi cố đô Thăng Long”.
Thăng Long, rồi Đông Đô, rồi Hà Nội từng chứng kiến cảnh lũ xâm lược hùng hổ kéo vào chiếm đóng, để rồi ôm đầu bỏ chạy như Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh tên của quân dân nhà Trần trong chiến thuật “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều”, bỏ ngỏ thủ đô cho địch kéo vào, rồi tập hợp lực lượng đủ mạnh đánh bật chúng ra. Thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi cũng làm như vậy “Suối máu Lãnh Câu, nước sông rền rỉ, thành xương Đan Xá cỏ nội đầm đìa. Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy; các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đâu” ( Bình Ngô đại cáo), đến thời Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến lược thần tốc thế như chẻ tre khiến Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin báo phải tháo chạy khỏi kinh thành Thăng Long, hoảng hốt đến độ người không kịp mặc áo giáp, ngựa không kịp thắng yên, cùng mấy tên lính kỵ vọt qua cầu, sang sông lên Bắc.
Trong Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể về cuộc rút lui chiến lược của Trung đoàn Thủ đô sau 2 tháng chiến đấu kìm chân địch tại Hà Nội để cả nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ đã nhắc lại sự kiện này: “150 năm trước, sông Hồng ngày đó còn gọi là Nhị Hà, đã chứng kiến cuộc rút chạy của đạo quân Tôn Sĩ Nghị với hàng nghìn binh lính chết đuối, xác ngập đầy sông. Hôm nay, sông Hồng một lần nữa chứng kiến một chiến công của dân tộc với cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ đô vượt qua vòng vây dày đặc của quân địch, một mẫu mực của lòng dũng cảm, khả năng tổ chức và tính kỷ luật với sự phối hợp và đùm bọc của các xã ven sông Hồng”. Trước đó 8 tháng, Hồi ký cũng nhắc lại “Hội nghị quân sự lần thứ nhất kéo dài từ ngày 12 đến 16 tại Trúc Sơn, nơi năm thế kỷ trước đã diễn ra trận Chúc Động – Tốt Động lịch sử” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sđd, tr 397).
Trong bức thư gửi Trung đoàn Thủ đô của Đại tướng: “chúng ta sẽ chiến đấu mười năm hay lâu hơn nữa nếu cần. Cho đến ngày Thủ đô Hà Nội được làm thủ đô một nước độc lập, thống nhất. Ta thề Thủ đô sẽ chiến thắng quân thù” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr 405). Lời thề ấy đã được thực hiện trọn vẹn. Ngày 10 – 10 – 1954 “năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về” (Văn Cao), trong hành trang của người chiến thắng có những nhánh hoa đào Điện Biên: “cái Tết tiếp quản, đào chiến thắng nở từ rừng Điện Biên Phủ kéo về đỏ rực cả phố Tô Lịch…”.
![]() |
Hình ảnh độc đáo ấy được trích từ Tùy bútNguyễn Tuân về “Cánh B52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội” ở đoạn nói về hoa rất thú vị: “Năm ấy Hà Nội ăn Tết to thật đấy! Riêng một mình Thủ đô mà xơi của nó hăm ba cỗ B52. Có bao nhiêu đào cúc quất là người Hà Nội cũng mua cho bằng hết với bất kể giá nào. Đúng thế, hoa Tết này là dành cho những người chiến thắng… Ông cụ viết câu đối Hàng Bồ bảo rằng, theo lời tổ tiên tám chín đời nói chung trong gia phả, thì cái năm vua Tây Sơn đuổi xâm lăng nhà Thanh khỏi Hà Nội và giỗ trận, thì hoa hoàng mai nở rất nhiều… Nhìn hoa Tết năm nay, thấy nhớ mai vàng nở mừng Quang Trung đuổi xong giặc. Thấy nhớ cái Tết tiếp quản đào chiến thắng nở từ rừng Điện Biên Phủ kéo về đỏ rực cả phố Tô Lịch… Còi tàu Tết rúc lên rền vang như càng giục hoa Tết nở bung và tản theo ra khỏi cùng với những người Hà Nội đi ăn Tết ở các tỉnh các miền quê xa”. (Nguyễn Tuân – Ký, Nxb Văn học, 1976, tr 332).
Quả thật, dấu ấn của hoa là dấu ấn của sự sống bất tận, là vẻ đẹp kỳ ảo gắn liền với con người, đời người, đặc biệt là với một triết lý nhân văn sâu thẳm của dân tộc ta được thể hiện một cách dung dị nhưng rất hàm súc trong câu tục ngữ “người ta là hoa đất” thì dấu ấn ấy in đậm trong truyền thống văn hóa. Nhà văn hóa đáng kính Hữu Ngọc trong tác phẩm đồ sộ Lãng du trong Văn hóa Việt Namđưa ra một nhận định thật đáng suy ngẫm ấy: “Văn hóa truyền thống Việt Nam mang dấu ấn của hoa”. Theo ông, từng có hai làng Võng Thị và Nghi Tàm có “cánh đồng hoa” từ thời Lý (thế kỷ XI, XII), (tr. 261). Còn trong Chuyện cũ Hà Nội,nhà văn Tô Hoài sâu sắc và tinh tế mà rằng: “vườn hoa là bài thơ cuộc sống”. Ông khẳng định: “Có người, có cây, có hoa. Cây cỏ và hoa thơm đã vào ca dao, bóng dáng nó đã nên thơ, đã là thơ… Vườn và hoa, cây trồng đời này cho bóng đời khác là lối sống văn hóa Việt Nam” (Tô Hoài, tr 334).
Và là văn hóa, cho nên người ta để tang cho cây khi trong gia đình người trồng cây, trồng hoa có người qua đời, nhất là người chủ của mảnh vườn từng gắn bó cuộc đời mình với cây với hoa. Vì là văn hóa cho nên “vườn hoa kiểu cha ông truyền lại là hoa đi đôi với hương… phong tục chơi cây của ta kiêng cắt cành, cho rằng làm như thế đau cây và sái… uốn cây, gò cây, chiết cây nhưng không cắt cành làm hình thù cái cây trọc đầu…” (sđd, tr 340).
Nghề chơi cũng lắm công phu, nhưng với cây, với hoa thì không phải chỉ có “công phu”, mà còn phải có tâm hồn, có tình cảm để xác lập được sự cảm thông, chia sẻ giữa hoa và người đã làm nên “bài thơ cuộc sống”. Vả chăng, gợi lại những dấu ấn lịch sử của hoa không phải chỉ để nói về hoa, mà nói hoa cũng là để nói người.
Con người Việt Nam trong lịch sử đã làm nên những dấu ấn của hoa, càng chiêm nghiệm điều ấy càng thấy ra dòng chảy bất tận của lịch sử luôn là chủ đề có sức giục giã con người trong cuộc sống hôm nay. Những dấu ấn của hoa trong lịch sử đã cho thấy một quá khứ gần và một quá khứ xa đã hòa quyện vào nhau trong sự sống động của đời sống con người Việt Nam hôm nay.
Trong khi một lịch sử gần đang chạy hối hả về với cuộc sống đương đại, thì một lịch sử xa xưa, nói như Fernand Braudel, lại chạy đến với chúng ta bằng những bước chân chậm rãi. Nhưng dù gần hay xa, dù hối hả hay chậm rãi thì lịch sử là một nhân tố không thể nào thiếu được để con người sống, hành động và suy nghĩ để không tự đánh mất mình trong sự xô bồ, nhộn nhạo nhưng đầy thử thách và không thiếu cám dỗ của hội nhập và phát triển.
… Con người Việt Nam trong lịch sử đã làm nên những dấu ấn của hoa, càng chiêm nghiệm điều ấy càng thấy ra dòng chảy bất tận của lịch sử luôn là chủ đề có sức giục giã con người trong cuộc sống hôm nay. Những dấu ấn của hoa trong lịch sử đã cho thấy một quá khứ gần và một quá khứ xa đã hòa quyện vào nhau trong sự sống động của con người Việt Nam hôm nay…












