Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 14/05/2007 21:33 (GMT+7)

Hiệu quả sử dụng đất trong khai thác lộ thiên

Dân số nước ta, đầu thế kỷ I sau Công nguyên là 1 triệu người, đến thế kỷ XI là 4,3 triệu người, sang thế kỷ XIX là 7,2 triệu người. Năm 1921 (Pháp thuộc) là 15,5 triệu người. Năm 1945 (sau CM tháng 8) là 23 triệu người, năm 1976 – 42,6 triệu người, năm 1996 – 75 triệu người…

Các số liệu thống kê trên cho thấy tốc độ tăng dân số ngày càng cao trong khi đó thì đất đai dùng cho canh tác, trồng trọt ngày càng thu hẹp, do quá trình đô thị hoá, do sự tàn phá vô ý thức của người dân đối với rừng, do thiên tai hoả hoạn, và một phần nữa do sự phát triển của công nghiệp khai thác khoáng sản ngày càng mạnh mẽ.

Đất đai trực tiếp nuôi sống con người bằng nhiều cách: là nơi trú ngụ của những ngôi nhà, làng mạc, thành phố, khu công nghiệp; là nơi nuôi trồng những “cây con” cung cấp các nhu cầu vật chất thiết yếu để con người tồn tại; là nơi đáp ứng nguồn tài nguyên khoáng sản cho sự phát triển của xã hội; là nơi góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng sống bằng không gian trong lành và đa dạng khi thư giãn nghỉ ngơi;… Hiệu quả sử dụng mà đất đai mang lại cho con người trên mỗi vùng, mỗi khu vực cụ thể, là khác nhau tuỳ thuộc vào việc lựa chọn của con người. Không ai dám chắc việc khai thác đá ở một ngọn núi để làm vật liệu xây dựng sẽ mang lại lợi ích to lớn hơn khi giữ nguyên nó cho một cảnh quan du lịch hay việc thu hồi quặng sắt ở một khoáng sản nào đó không đủ bù chi phí cho việc khắc phục hậu quả về môi trường sau này… Nếu không có những nghiên cứu, so sánh, đánh giá nghiêm túc, đặc biệt đối với việc khai thác những khoáng sản có chứa hoặc phải sử dụng tới những hoá chất độc hại, nhạy cảm với môi trường hay khi khoáng sàng có chứa loại khoáng sản đó nằm ở địa điểm có mật độ dân cư lớn, hoặc gần các khu di tích, khu du lịch hay ở vùng đất màu mỡ, thuận lợi cho việc thâm canh nông, lâm nghiệp.

Bên cạnh đó, thì việc khai thác một cách cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo và hữu hạn cũng là điều phải cân nhắc. Vì mục đích phát triển bền vững, vấn đề này hiện đang được các nước phát triển trên thế giới coi trọng. “Tiết kiệm, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản, dành dụm cho các thế hệ mai sau” đã trở thành quốc sách. Nhiều nước phát triển đã thu hẹp sản lượng hoặc ngừng khai thác ở một số khoáng sản chiến lược, hoặc xét thấy hiện tại việc khai thác chúng kém hiệu quả… Chúng ta đã biết các nhà khoa học thế giới sau khi kiểm kê lại nguồn tài nguyên khoáng sản của nhân loại và nghiên cứu, sự gia tăng nhu cầu sử dụng chúng của các nước đã dự báo rằng các khoáng sản chỉ đủ cho thế giới dùng trong vòng 100 – 300 năm là sắt, mangan, crôm, vônfram, molipđen, coban; Đủ dùng cho khoảng 50 năm là đồng, thiếc; Đủ dùng cho 40 năm là kẽm; Đủ dùng cho 30 năm là vàng, bạc; Đủ dùng cho vài chục năm là nhôm, bạch kim. Còn than, với trữ lượng dự báo là 840 – 1040 tỷ tấn cũng chỉ đủ dùng 236 năm [1].

Từ đó, việc cân nhắc để tiến hành khai thác một khoáng sản nào đó, ngoài việc dựa vào tiêu chí hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất vào mục đích kinh tế khác, còn cần phải xem xét lợi ích lâu dài và vị trí chiến lược của loại khoáng sản đó trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân để quyết định thời điểm đưa nó vào hoạt động. Cả hai vấn đề trên đều thuộc trách nhiệm cơ quan quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô về sử dụng hợp lý tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản.

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất vào mục đích khai thác khoáng sản thường được đánh giá dễ dàng bằng định lượng trên cơ sở giá trị hiện tại ròng (NPV) của dự án, diện tích đất sử dụng của dự án và giá trị kinh tế của bản thân đất thông qua giá trị đất cho thuê hoặc nhượng quyền sử dụng, lợi tức hàng năm mang lại của các dịch vụ khác của đất như trồng lúa, hoa mầu, cây công nghiệp,… hoặc tham quan du lịch trên vùng diện tích đó.

Tuỳ theo loại khoáng sản, phương thức khai thác và khả năng phục hồi đất đai sau khi khai thác mà giá trị kinh tế của bản thân đất có thể chỉ tạm thời không thu hồi được trong thời gian hoạt động của dự án khai thác mỏ hoặc vĩnh viễn mất đi, thậm chí còn phải bù đắp thêm để khắc phục những hậu quả xấu mà dự án khai thác mỏ để lại.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp hoạt động khai thác mỏ đã tạo ra “hiệu ứng dương” làm tăng thêm giá trị của đất đai sau khai thác, biến những vùng đồi trọc khô cằn hay vùng đầm lầy chua mặn không có giá trị sử dụng thành khu dân cư sầm uất, khu vui chơi giải trí, có giá trị thẩm mỹ cao trong dịch vụ du lịch. Thông thường, để kể đến ý nghĩa kinh tế xã hội của dự án (tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí cộng đồng…) thì khi NPV ³ 0 là dự án được chấp nhận. Có nghĩa là, việc chấp nhận dự án chỉ mới xét đến yếu tố cung cầu đối với loại khoáng được khai thác hoặc chỉ mới nhìn nhận vấn đề trên lợi ích riêng của nhà đầu tư, mà chưa quan tâm một cách toàn diện, khách quan hơn về hiệu quả sử dụng đất.

Để khắc phục tính phiến diện, chủ quan khi đánh giá, lựa chọn và quyết định phương án đầu tư dự án (bao gồm cả dự án khai thác khoáng sản) ta có thể căn cứ vào chỉ số hiệu quả sử dụng đất:

l d= (NPV - å C j.a j)/ å G k.a k(1)

Trong đó, NPV – Giá trị hiện tại ròng của dự án khai thác khoáng sản trong T năm hoạt động, xác định theo biểu thức (1), tỷ đồng; C j– Chi phí phục hồi môi trường ở năm thứ j, tỷ đồng; a j- Tỷ suất chiết khấu, đvtp; a j= 1/(1+r) j; G k - Lợi nhuận thu hồi từ dịch vụ chính của đất ở thời điểm đánh giá (nuôi trồng, du lịch…) tỷ đồng; a k- Tỷ suất chiết khấu; a j= 1/(1+r) j-1, đvtp; r - Hệ số chiết khấu vốn đầu tư, thường lấy bằng lãi suất vay ngân hàng trên thị trường vốn.

Dự án khai thác khoáng sản sẽ được chấp nhận khi l d> 1. Trên thực tế, phần lớn các dự án khai thác khoáng sản đều có l dlớn hơn 1 (thậm chí là lớn hơn nhiều lần). Tuy nhiên khi “t” - thời gian phục hồi đất càng lớn thì l dcàng nhỏ và nếu sau khai thác, khả năng phục hồi đất là bất khả (kể cả chuyển đổi chức năng sử dụng) thì l » 0. Khi đó, dự án không thể chấp nhận. Điều này cũng đồng nghĩa với việc danh dụm tài nguyên, để lại cho các thế hệ mai sau, khi điều kiện khoa học công nghệ phát triển đủ để thu hồi chúng mà vẫn bảo đảm chỉ số l dlà dương tính.

Vấn đề phục hồi đất sau khai thác cũng cần được đánh giá một cách khách quan hơn. Về tổng thể, khai thác mỏ lộ thiên là hoạt động gây nhiều tác động xấu tới đất đai, môi trường sinh học và cảnh quan khu vực như chúng ta đã nhắc đến nhiều lần ở trên. Tuy nhiên nếu coi đó là một hiện tượng phổ biến và tất yếu thì đó là một đánh giá không công bằng. Trong thực tế hoạt động khai thác mỏ nói chung của thế giới và Việt Nam đã có không ít những trường hợp mà trong đó đất đai của vùng mỏ cũ có giá trị cao hơn nhiều so với giá trị nguyên thuỷ của nó trước khi mở mỏ, thậm chí còn kéo theo sự gia tăng giá trị của vùng đất lân cận. Xét ở góc độ tích cực, hoạt động khai thác mỏ đã tạo ra nhữung cộng đồng dân cư mới, những đô thị mới; đã đưa ánh sáng văn hoá về vùng sâu, vùng xa (vì phần lớn tài nguyên khoáng sản đều tập trung ở vùng miền núi); tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao dân trí cho một bộ phận không nhỏ dân cư vùng đồng bằng và miền núi.

Trên thế giới, việc khai thác than ở vùng Đonbass đã tạo nên thành phố Đonhet (Ucraina); bề than Katowice đã trở thành thành phố Katowice sầm uất; mỏ đá xây dựng ở Dramen (Na Uy) đã trở thành một điểm du lịch lý tưởng; mỏ muối Kracôv ngày nay là một bảo tàng muối có một không hai trên thế giới…

Tại nước ta, phường Hà Tu (thành phố Hạ Long) là kết quả của việc mở mỏ khai thác các khoáng sàng than Lộ Phong, Bàng Danh; mỏ đá Núi Voi đã dựng nên phường Núi Voi của thành phố Thái Nguyên;… Còn có thể đưa ra nhiều thí dụ tương tự.

Bản thân các công trình mỏ cũ và diện tích đất đai xây dựng, bãi thải của mỏ cũ sau khi cải tạo để chuyển đổi mục đích sử dụng trong nhiều trường hợp cũng có giá trị cao hơn nhiều giá trị nguyên thuỷ tuỳ theo ý tưởng ban đầu của nhà thiết kế, phương án và quy mô phục hồi, vị trí địa hình và địa lý của khu mỏ.

Hiệu quả của việc phục hồi đất sau khi khai thác có thể đánh giá qua “chỉ số phục hồi đất”, được xác định theo biểu thức sau:

L p= (G m- G p)/G c(2)

Trong đó, G m– Giá trị đất đai sau khi phục hồi, dự báo theo giá cả thị trường tại thời điểm tính toán; G p– tổng chi phí phục hồi đất để đạt được mục đích sử dụng trên; G c– Giá trị nguyên thuỷ của đất đai trước khi mở mỏ ở thời điểm tính toán (theo định giá của Nhà nước).

Chỉ số l pcó thể lớn hơn hay nhỏ hơn 1 tùy theo khả năng phục hồi, quy mô phục hồi, mục đích sử dụng cũng như vị trí của vùng đất phục hồi sau khai thác được.

Tóm lại, việc quan tâm đến chỉ số hiệu quả sử dụng đất l và chỉ số phục hồi đất l pkhi đánh giá, lựa chọn các dự án khai thác khoáng sản là các tiêu chí tham khảo, mang tính khách quan, vừa đảm bảo tính kinh tế của tiêu chí lựa chọn, vừa có tác dụng nhắc nhở các chủ đầu tư tiết kiệm đất sử dụng cho dự án, ý thức được trách nhiệm trong bảo vệ môi trường và góp phần cho sự phát triển bền vững của kinh tế xã hội.

Việc đưa chỉ số l pvào các dự án khai thác mỏ có ý nghĩa khuyến khích nhà đầu tư ý thức hơn về tầm nhìn lâu dài đối với việc sử dụng đất từ khi bắt đầu nghiên cứu, thiết kế dự án, đến khi xây dựng phương án đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường sau khai thác, giúp cho các nhà quản lý, chủ sở hữu đất, chính quyền các cấp trong việc cân nhắc, định hướng các quy hoạch phát triển lâu dài trên vùng đất thuộc quyền quản lý của mình đồng thời giúp cho chúng ta có được các đánh giá khách quan và cụ thể hơn về hiệu ứng tích cực hay tiêu cực mà hoạt động của dự án khai thác mỏ đó mang lại đối với môi trường kinh tế - xã hội.

Tài liệu tham khao

1.Nguyễn Phước Tường, Tiếng kêu cứu của Trái đất. NXB Giáo dục. Hà Nội. 1999.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.