Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 03/04/2020 20:27 (GMT+7)

Hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội

Nhận thức vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội, nhiều năm qua, hoạt động này luôn được Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng là thành viên của Tổng hội Xây dựng Việt Nam quan tâm thực hiện và đạt nhiều kết quả.

 PGS-TS. Lưu Đức Hải  - Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng (ảnh st)

tư vấn, phản biện và giám định xã hội là hoạt động cung cấp tri thức, kinh nghiệm, thông tin, tư liệu cùng với sự phân tích, đánh giá, kiến nghị cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền; là hoạt động đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án với mục tiêu và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra. Đồng thời, xác định tính khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi của đề án hoặc một vấn đề, một sự việc cụ thể. Hoạt động này được thực hiện trên cơ sở khoa học, thực tiễn, độc lập, khách quan và không vì mục đích lợi nhuận.
Theo PGS-TS. Lưu Đức Hải  - Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng cho biết, thời kỳ Viện mới thành lập (1999-2010), các văn bản pháp quy về lĩnh vực Xây dựng - Đô thị - Hạ tầng còn chưa đầy đủ và chưa đồng bộ, do đó các Nghiên cứu khoa học - Tư vấn - Phản biện, giám định xã hội do Viện thực hiện cũng chưa bao quát được nhiều về các lĩnh vực (chẳng hạn như giao thông đô thị, ngập lụt đô thị, chất thải rắn đô thị, cây xanh đô thị... còn thiếu hoặc vắng trong các sản phẩm của Viện).
Thời kỳ này có một số đề tài được nghiên cứu, đó là: “Chống khép kín trong đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước”, “Sử dụng tài nguyên đất Việt Nam với định cư nông thôn”, “Chính sách đất đô thị Việt Nam”, “Nghiên cứu đánh giá tình hình cấp thoát nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam năm 2010 và đề xuất kế hoạch phát triển năm 2020”.
Thời kỳ 2011-2019, các văn bản pháp quy tương đối đầy đủ và từng bước đồng bộ, song có sự điều chỉnh và bổ sung mới (Luật Xây dựng sửa đổi, Luật Quy hoạch đô thị ban hành mới, các văn bản về hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn ở cấp độ Nghị định, chưa được nâng lên thành luật...).
Đây cũng là thời kỳ mà nhận thức của các địa phương về đô thị và đô thị hóa ngày càng nhiều hơn, tốt hơn, đòi hỏi các sản phẩm của Viện về Nghiên cứu khoa học - Tư vấn - Phản biện, giám định xã hội cũng phải liên tục đổi mới, đáp ứng yêu cầu của của các cơ quan quản lý Nhà nước Trung ương và địa phương, của các cơ quan liên quan...
Đô thị hóa ở Việt Nam đang có nhiều khởi sắc, tăng trưởng và phát triển cả về số lượng, tỷ lệ đô thị hóa và chất lượng sống trong đô thị. Nếu như vào năm 1990 nước ta có khoảng 500 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa đạt 17-18% dân số sống trong các đô thị thì đến 2018 nước ta đã có trên 800 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa đạt 37-38%. Năm 1990 cũng là năm tổ chức Hội nghị đô thị toàn quốc lần đầu tiên, khi đó có rất ít đô thị được lập và được duyệt quy hoạch chung đô thị.
Đến nay quy hoạch đô thị đã đi trước một bước theo đúng tinh thần của Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị, hầu hết các đô thị nước ta đều đã có quy hoạch chung được lập, được phê duyệt, làm cơ sở để triển khai các bước tiếp theo, đó là: Chương trình phát triển đô thị theo quy hoạch, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết làm cơ sở để lập dự án đầu tư xây dựng.
Nước ta có 5 thành phố trực thuộc Trung ương và 58 tỉnh (gọi chung là 63 tỉnh thành). Trong mỗi tỉnh lại có đô thị tỉnh lỵ và một số huyện trực thuộc, mỗi huyện lại có thị trấn huyện lỵ là đô thị và một số xã (khu vực nông thôn).
Việc chuyển hóa từ nông thôn thành đô thị hay từ đô thị nhỏ thành đô thị lớn hơn đều phải được thực hiện theo quy hoạch, chương trình, kế hoạch được phê duyệt. Ở tất cả các địa phương vấn đề đô thị hóa, quy hoạch đô thị là nội dung quan trọng được nêu trong Nghị quyết của Đảng bộ các cấp. Hầu hết các quy chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chí về đất đai, giao thông, cấp nước, thoát nước, cây xanh, nhà ở... đều có định lượng (hoặc định tính) cần đạt được trong tương lai (gần hoặc xa) được duyệt theo quy hoạch.
PGS Hải cũng cho biết thêm, việc “điều chỉnh quy hoạch” một số đô thị ở các địa phương trong thời gian qua có hai loại hình cụ thể: Một là, điều chỉnh theo tinh thần của Luật Quy hoạch đô thị, có quy hoạch được duyệt từ năm năm trở lên có thể điều chỉnh quy hoạch chung để phù hợp hơn với phát triển thực tế và tương lai; Hai là, điều chỉnh để đáp ứng các yêu cầu cần thiết của đô thị bậc cao hơn.
Ngày nay đô thị chính là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thường đóng góp tới 60-70% GDP, bởi ở đó tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đòi hỏi cao hơn, chuyển dần từ cơ cấu phát triển kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ là chủ đạo. Theo quy định đất nông nghiệp được quy hoạch là đô thị hay một phần đô thị của tương lai sẽ được quản lý như đất đô thị khi quy hoạch được phê duyệt.

Quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch được phê duyệt là nhiệm vụ quan trọng của các ngành chức năng (ảnh st)

Việc phát triển các khu đô thị mới quá sớm trên các khu đất “heo hút”, “đồng không mông quạnh” để tạo ra các quỹ nhà ở mà ở đó cung lớn hơn cầu là một trong các thí dụ điển hình về lãng phí nguồn tài chính, tài nguyên đất đô thị, không chỉ gây lãng phí cho các nhà đầu tư mà còn gây lãng phí cho những nguồn đầu tư công hoặc cho cả người dân đô thị.
Sự lãng phí có thể còn diễn ra ngay trong các khu vực đô thị cải tạo, bởi các nhà đầu tư khi lập quy hoạch chi tiết nhằm cải tạo khu vực đó có thể sẽ dẫn đến quá tải về quỹ nhà ở, về không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị, quá tải về các hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho khu mới cải tạo (điện, nước, giao thông, thoát nước, chất thải rắn, cây xanh...), từ đó dẫn tới gia tăng đầu tư công để giải quyết sự quá tải bằng dự án đầu tư cải tạo, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết.
Việc còn thiếu các báo cáo “đánh giá tác động xã hội” là một nguyên nhân dẫn tới có thể nẩy sinh lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện xây dựng đô thị theo quy hoạch.
PGS Hải tâm sự, trong những năm Viện đã thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sự nghiệp kinh tế như: Đề tài “Chống khép kín trong đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2005); Đề tài “Sử dụng tài nguyên đất Việt Nam với định cư nông thôn”; Nghiên cứu cơ sở khoa học về “Chính sách đất đô thị Việt Nam” (Bộ Xây dựng, 2009); Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tình hình cấp thoát nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam năm 2010 và đề xuất kế hoạch phát triển năm 2020”; Đề tài “Tổng quan lý luận và thực tiễn về chính sách đầu tư và quản lý phát triển không gian dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, 2010);
Dự án “Điều tra khảo sát sự phát triển đô thị của khu vực nội thành tại một số thành phố lớn và đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại” (Bộ Xây dựng, 2011-2012); Đề tài “Định hướng phát triển và quản lý kiến trúc hệ thống hồ thành phố Hà Nội nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị đến năm 2030 và tầm nhìn 2050” (Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, 2014-2015); Đề tài “Đổi mới hệ thống quản lý đất đai, hình thành thị trường bất động sản”; Đề tài “Nghiên cứu những thay đổi trong kiến trúc truyền thống các tộc người bản địa ở Tây Nguyên hiện nay” (Quỹ Nafosted tài trợ, 2013-2014);
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trong phạm vi chỉ giới đường đỏ phù hợp với điều kiện của Hà Nội” và “Nghiên cứu các mô hình phát triển nhà ở xã hội cho thuê thành phố Hà Nội” (Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, 2016-2018); Đề tài “Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ không gian hồ trong đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu” (Bộ Xây dựng 2016-2018); Đề tài “Nghiên cứu định hướng và giải pháp quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới ven đô” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019-2020)...
Để phát triển vững mạnh tới ngày nay, PGS Hải cho hay, trước tiên là các hoạt động của Viện phải bám sát 3 nội dung chính: Xây dựng - Đô thị - Hạ tầng. Sự kết hợp hài hòa giữa 3 nội dung đã tạo nên sự phát triển bền vững, lớn mạnh của tổ chức.
Hai là, các cán bộ của Viện tham gia trong các hoạt động đó bao gồm: Nhà khoa học (tham gia nghiên cứu khoa học) - Nhà tư vấn (tham gia các công trình tư vấn) - Nhà báo (tham gia phản biện, giám định xã hội), sẽ phối hợp với nhau trong các hoạt động của Viện. Sự kết hợp hài hòa giữa “3 nhà” ấy đã tạo nên sự phát triển bền vững về con người, của mỗi thành viên trong tổ chức Viện.
Các cán bộ của Viện qua sản phẩm được tạo ra của mỗi người, họ đã đánh giá được thực trạng của đối tượng nghiên cứu, chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, chỉ ra được nguyên nhân của sự yếu kém để từ đó đề ra được các giải pháp khoa học cho tương lai (đối với đề tài nghiên cứu khoa học); đề ra được các định hướng phát triển ngăn hạn, dài hạn và tầm nhìn tương lai (đối với sản phẩm tư vấn về quy hoạch đô thị, phát triển đô thị và hạ tầng); đề ra được các hướng đi tốt, nhằm khắc phục những việc làm chưa tốt.
Tiếng nói của “3 nhà” đã chỉ ra rằng, ngay chính trong sản phẩm nghiên cứu của mỗi người, mỗi nhà, họ không chỉ nghiên cứu, mà qua các sản phẩm ấy đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về những nguy cơ tụt hậu, những sai lầm đã, đang và dự báo có thể xảy ra trong tương lai, và quan trọng hơn cả họ phải chỉ ra được hướng đi và những nhiệm vụ, giải pháp cần làm cho  tương lai vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bài: HT

Xem Thêm

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Góp ý Dự thảo Chương trình hành động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV
Chiều 6/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức hội thảo “Góp ý dự thảo Chương trình hành động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”.
Ngập úng đô thị - Thách thức và biện pháp giảm thiểu
Hội thảo “Ngập úng đô thị - Thách thức và biện pháp giảm thiểu” là diễn đàn trao đổi khoa học và thực tiễn, tập trung đánh giá toàn diện thực trạng, nguyên nhân và mức độ tác động của ngập úng đô thị, đồng thời đề xuất các giải pháp tổng hợp về quy hoạch, kỹ thuật, quản trị và chính sách…
40 năm trí thức Liên hiệp Hội đồng hành cùng đất nước
Năm 2026 đánh dấu cột mốc đặc biệt quan trọng: 40 năm Việt Nam thực hiện công cuộc Đổi mới - hành trình vĩ mô đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo đất nước trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, khoa học - công nghệ đến văn hóa, xã hội và hội nhập quốc tế.
Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Tin mới

Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.