Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 21/10/2009 15:51 (GMT+7)

Hàng nội ngày càng khó cạnh tranh với hàng ngoại

Sau khi gia nhập WTO và “chạm cơn sóng dữ” đầu tiên: khủng hoảng tài chính toàn cầu thì Việt Nam mới ngỡ ngàng nhận thức sâu sắc rằng hóa ra thị trường nội địa của mình đang bị xâm chiếm toàn diện. Hóa ra các cuộc “xâm lăng” thời hiện đại chủ yếu là xâm chiếm thị trường trong khuôn khổ các định chế thương mại toàn cầu hóa để khiến hàng nội quay trở lại với thị trường nội địa cũng đâu có dễ.

Với các cụ ngày xưa thì câu hỏi “hàng nội là gì” quá đơn giản: Đó là hàng do người Việt ta sản xuất. Còn ngày nay, khi toàn cầu hóa khiến cho bất cứ sản phẩm nào làm ra cũng có thể có các cấu thành xuất xứ từ nhiều quốc gia khác nhau, thì hàng nội hóa là cái khó xác định: đến hạt lúa làm ra còn có phần phân bón ngoại nhập, chở đi đến cho người tiêu dùng bằng xe ô tô ngoại nhập! Nên nếu chúng ta tạm coi hàng có hơn 50% giá trị được sản xuất trong nước là hàng nội dù rằng trong những cấu thành làm nên một sản phẩm còn có bao nhiêu xuất xứ thuần Việt lại đang còn là vấn đề tạm bỏ ngỏ thì cũng không thật ổn? Vậy thì nên chăng coi hàng Việt là hàng do một người chủ (cả tư nhân, tập thể lẫn nhà nước) Việt có một thương hiệu Việt làm ra.

Có điều, thực tế hôm nay còn có rất nhiều hãng liên doanh hoặc nước ngoài ở Việt Nam đang tham gia tích cực vào sản xuất cung ứng hàng tiêu dùng phục vụ cho thị trường nội địa. Vậy thì xác định như thế nào đây những hàng đó? Về lý thuyết, có hai cực ở đây: 1. những hàng đưa ra thị trường có sử dụng về cơ bản những nguyên vật liệu làm ra ở Việt Nam ; 2. những hàng đưa ra thị trường sử dụng về cơ bản những nguyên vật liệu, phụ kiện làm ra ở nước ngoài. Loại thứ nhất cần được xem là hàng nội và loại thứ hai phải là hàng ngoại “giả vờ” hàng nội.

Nếu không xét tới nhóm hàng nội giả vờ, nhìn vào những hàng nội đang có chúng ta có thể thấy khá rõ sự khác biệt giữa hai nhóm hàng nội này: nhóm thứ nhất đang chật vật để dành một chỗ đứng xứng đáng trên thị trường vốn là của mình trong khi nhóm thứ hai xâm chiếm mạnh mẽ thị trường. Tức là vẫn nguyên vật liệu do xứ sở này cung cấp và nhân lực cũng chủ yếu do người Việt tham gia nhưng có sự khác nhau về trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp, cách thức quản lý trong các doanh nghiệp và sự bảo hộ pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động. Kể cả những từ khó khăn khi kiếm mảnh đất cho đến thời gian đi nộp thuế... Và kết quả rất khác nhau.

Trước hết, công nghệ ứng dụng sẽ tùy thuộc vào việc chúng ta lựa chọn công nghệ nào và khả năng chúng ta phát minh, cải tiến chúng như thế nào để đưa vào sản xuất. Sự thiếu hiểu biết về  khoa học và công nghệ chung của nước nhà cũng như của những nhà quản lý được bổ nhiệm trong các doanh nghiệp nhà nước, nhóm chiếm đa số nguồn vốn quốc gia dành cho phát triển, đã không cho phép chúng ta tiếp cận với các công nghệ mới và càng ít có khả năng sáng tạo cái mới. Và có lẽ không cần nói ai cũng hiểu rằng sức cạnh tranh của hàng hóa trước hết tùy vào trình độ công nghệ và nếu công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam kém thì sức cạnh tranh suy giảm là điều quá đương nhiên.

Tiếp đó, là cung cách quản lý một doanh nghiệp. Cách quản lý nhằm vào thị trường khác cách quản lý nhằm vào thực hiện kế hoạch ở chỗ rất cơ bản là sử dụng người tài và khoa học kỹ thuật. Các doanh nghiệp lớn Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước nên quan tâm đến ứng xử, thứ bậc nhiều hơn là quan tâm đến sử dụng người tài.

Vì vậy giới chuyên gia giỏi khó tồn tại được trong các doanh nghiệp đó với thu nhập cào bằng và những ứng xử ngoài chuyên môn của họ. Nên những người tài phải “bật bãi” khỏi các doanh ngiệp nhà nước vẫn là chuyện quá thường trong khi các doanh nghiệp tư nhân còn quá nhỏ để sử dụng hết được kiến thức và kỹ năng của họ. Nhìn những thông tin về ông Hai lúa chế máy bay trực thăng hay anh nông dân làm ra một cái máy gì gì đó thì mới phải ngậm ngùi cho số người có bằng cấp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ cao ngất trời mà Việt Nam hiện đang có rất nhiều, không biết họ ở đâu và làm gì?

Cuối cùng, một doanh nghiệp ở Việt Nam tồn tại trong một môi trường tuy đã được cải thiện nhiều nhưng còn rất bấp bênh. Doanh nghiệp vẫn đang được nhìn nhận như là đối tượng “để hành” và “để nộp”. Các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài, với vị thế của mình, ít bị ảnh hưởng hơn vì những sự vô lý của môi trường. Hơn thế, họ vẫn có một khung pháp lý khác. Sự ổn định này cho phép người ta đầu tư mạnh tay hơn và vững vàng hơn cho doanh nghiệp. Và cũng sống chết hơn với doanh nghiệp chứ không có sự ăn xổi ở thì nhiều như ở không ít doanh nghiệp thuần Việt.

Vậy là chúng ta đang đi đến điểm tận cùng của việc người Việt dùng hàng Việt là hàng hóa Việt phải có đủ sức cạnh tranh. Trước hết là trên thị trường nước nhà và sau đó là trên thế giới. Và giải quyết như thế nào để lấp sự khác biệt giữa hai nhóm hàng nội đó để hàng nội nào cũng có sức cạnh tranh như hàng nội nào?

Chỉ báo thắng thua của cuộc đấu tranh dùng hàng nội địa và dành lại thị trường nội địa nằm trong cái gọi là năng lực cạnh tranh quốc gia: sản xuất ra được thứ hàng nội có khả năng cạnh tranh so với các quốc gia khác ở trên toàn thế giới chứ không chỉ ở trong nước. Chỉ tiêu đó đang dần dần tụt dốc trong ba năm vừa qua. Dù rằng nhiều người cố tự an ủi chúng ta đã có cải tiến nhiều nhưng tụt bậc vì các nước khác lại cải tổ nhiều hơn! Nhưng dù thế nào đi nữa thì chỉ báo đó cũng cho thấy là hàng nội ngày một gặp khó hơn khi cạnh tranh với hàng ngoại để dành tình cảm của người mua.  

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.