Hàn Quốc: Mua, bán, tạo công nghệ để công nghiệp hóa
Làm thế nào để biến đổi từ một nước nông nghiệp kém phát triển thành nước công nghiệp mới? Có được bước đột phá ngoạn mục đó là nhờ Hàn quốc biết chú trọng đầu tư vào khoa học công nghệ, thương mại hóa công nghệ và biến nó thành nhân tố cơ bản để công nghiệp hóa thành công.
Tư nhân: Lực lượng chủ chốt mua, bán và tạo công nghệ
Nghiên cứu thành công của KH&CN Hàn Quốc, các nhà phân tích nhận thấy:
Trong xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, Chính phủ đã tập trung phát triển công nghệ hướng về sản xuất.
Các nhà hoạch định chính sách và giới chủ doanh nghiệp không mấy quan tâm về sự mới lạ của công nghệ mà tập trung vào việc ứng dụng công nghệ phù hợp với nhu cầu sản xuất và đòi hỏi của thị trường..
Cuối thập kỷ 70, nhà nước chủ trương tự do hóa nhập khẩu công nghệ nên hoạt động này có xu thế ngày một gia tăng. Thời kỳ 1977-1981, giá trị nhập công nghệ của Hàn Quốc đạt 451,4 triệu USD, gấp 22 lần 10 năm trước đó. Đến thời kỳ 1987-1990, giá trị nhập công nghệ của nước này đã lên đến trên 3472,3 triệu USD
Bắt đầu từ những khởi xướng hướng về doanh nghiệp thông qua chính sách Nghiên cứu và Phát triển (R&D), chi phí nghiên cứu phát triển có xu hướng ngày càng gia tăng.
Nếu năm 1981, tổng chi phí R&D từ 293 triệu USD (bằng 0,64% GDP), thì năm 1991 đã lên đến 4.160,6 triệu USD, tức là gấp 14,2 lần (chiếm 2,01% GDP cả nước).
Đáng quan tâm trong đầu tư là tổng mức gia tăng nhanh, nhưng tỉ trọng từ ngân sách chính phủ lại ngày một giảm (từ 64% cuối thập kỷ 1970 xuống còn 20% năm 1987 và ổn định khoảng 18-19% những năm sau này).
Khác với nhiều nước, phương thức nhập công nghệ của Hàn Quốc không nặng về đầu tư trực tiếp nước ngoài (từ năm 1962-1993, giá trị nhập công nghệ tương đương với 70,5% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).
Nắm vững công nghệ thông qua đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu tại chỗ để theo kịp công nghệ nước ngoài và bổ sung, sửa đổi công nghệ nhập cho thích hợp đã trở thành việc làm phổ biến trong suốt quá trình công nghiệp hóa .
Nét nổi bật của phát triển KH&CN Hàn Quốc là thương mại hóa kết quả nghiên cứu tạo ra. Đẩy mạnh hoạt động thương mại hóa đã làm cho các nhà nghiên cứu, kỹ sư trong nước có cơ hội liên tục học hỏi. Kiến thức công nghệ gốc chuyển giao từ nước ngoài vào được thực hiện thông qua các kênh chính thức và không chính thức; việc học hỏi qua quá trình mô phỏng ứng dụng và thích nghi công nghệ nhập đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.
Thêm vào đó, thị trường luôn thay đổi với những đòi hỏi khắc nghiệt về chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, buộc các doanh nghiệp phải duy trì mức đầu tư cao để học hỏi, đổi mới cả về công nghệ lẫn sản phẩm.
Trên tinh thần này, học cách làm và học qua sử dụng đã trở thành biện pháp để nâng cao trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp.
Hỗ trợ, nuôi dưỡng KH&CN đối với các công ty tư nhân là vấn đề cốt lõi trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và công nghiệp hóa đất nước.
Nhà nước: Thiết lập môi trường và điều tiết…
Chính phủ khởi xướng phát triển những ngành công nghiệp chiến lược và thúc đẩy tăng trưởng khu vực tư nhân.
Nhà nước nắm vai trò quyết định trong thiết lập môi trường vĩ mô, tạo thuận lợi để nâng cao năng lực khoa học công nghệ, phát triển thị trường đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Với cách làm này, khu vực tư nhân đã có vị trí quan trọng trong phát triển công nghệ; vào năm 1994, khu vực tư nhân có 2.000 cơ quan nghiên cứu và nguồn tài chính đã chiếm trên 81% tổng chi phí KH&CN quốc gia.
Các tổ chức nhà nước trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo lập cơ quan nghiên cứu, giáo dục đào tạo; xây dựng các khu khoa học, các trung tâm thương mại hóa nghiên cứu phát triển; soạn thảo, thực thi các chế độ, chính sách kích thích hoạt động của khu vực tư nhân và vận hành các chương trình nghiên cứu phát triển.
Việc thực hiện các chương trình Chính phủ đã giúp nhiều công ty, doanh nghiệp tư nhân vượt qua những rào cản, tiếp cận dễ dàng hơn với các sự kiện và tiến bộ công nghệ thế giới.
Mặc dù nhà nước quyết định môi trường vĩ mô, song Chính phủ chỉ đóng vai trò gián tiếp, ra quyết định, sau đó giao lại cho khu vực tư nhân toàn quyền tự chủ.
Nhà nước và tư nhân cùng hợp tác
Chính phủ thông qua bộ Khoa học và Công nghệ đã đẩy mạnh việc hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu nhà nước với công ty tư nhân. Những nỗ lực trong xây dựng chính sách, tổ chức đầu tư, khuyến khích áp dụng và thúc đẩy thương mại hóa được thể hiện trên các mặt:
Nghiên cứu phát triển công nghệ bản địa và tổ chức chuyển giao công nghệ được coi là một giải pháp cơ bản để đổi mới công nghệ quốc gia.
Chiến lược tiếp thu công nghệ thương phẩm được hình thành trên cơ sở gắn kết nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các doanh nghiệp tư nhân. Mối quan hệ giữa dự án khoa học công nghệ và doanh nghiệp được đánh giá bằng hiệu quả và tỉ lệ thương mại hóa.
Phân tích các biện pháp tiến hành cho thấy, nghiên cứu triển khai có tỉ lệ thương mại hoá 32,5%; giải pháp bổ sung giấy phép nghiên cứu phát triển đạt 58,9% và nghiên cứu phát triển tại chỗ có tỷ lệ cao nhất 62,2%.
Nếu nghiên cứu tại chỗ có hiệu quả nhất ở khu vực doanh nghiệp hiện hữu, thì trong những doanh nghiệp mới thành lập, thương mại hóa theo hướng cấp phép bổ sung lại có hiệu quả cao hơn. Riêng về hợp tác giữa doanh nghiệp tư nhân với các tổ chức nghiên cứu, thì việc tiếp thu công nghệ bổ sung và phối hợp nghiên cứu lại là giải pháp tạo cho thương mại hóa nhiều thành công.
Từ thực tiễn những năm công nghiệp hóa, Hàn Quốc chấp nhận chiến lược thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu là hướng đi để doanh nghiệp tư nhân tiếp thu công nghệ và bổ sung hợp tác với những cơ quan nghiên cứu được Nhà nước hỗ trợ. Thành công của thương mại hóa phụ thuộc vào nhu cầu thị trường sản phẩm và quá trình phát triển công nghệ mới. Kế hoạch thương mại hóa ban đầu thường chứa nhiều rủi ro và cần vốn đầu tư lớn.
Cấp vốn để thương mại hóa công nghệ
Do thiếu năng lực công nghệ, vốn và nhân lực, doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều hạn chế không chỉ ảnh hưởng đến phát triển công nghệ mà còn cản trở việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu tạo ra. Nhằm vượt qua cản trở này, Chính phủ đã tìm nhiều biện pháp khuyến khích để duy trì một cơ chế thị trường lành mạnh.
Giải pháp quan trọng là thành lập các công ty cấp vốn; những công ty này có nhiệm vụ hỗ trợ tài chính toàn diện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng đầu tư cổ phần, cho vay, tổ chức dịch vụ cho thuê và làm đại lý... Doanh nghiệp đầu tư vào thương mại hóa công nghệ mới được miễn thuế đến 3% tổng chi phí; khi vận hành, nếu doanh nghiệp thuộc diện hỗ trợ tài chính sẽ được miễn 100% thuế thu nhập trong 3 năm đầu và 50% cho 2 năm tiếp theo.
Cùng với tạo cơ hội và điều kiện giảm thiểu rủi ro và chi phí vận hành, Nhà nước cho phép thành lập các tập đoàn phát triển và hỗ trợ phát triển công nghệ tiên tiến.
Tập đoàn đầu tiên ra đời năm 1976, có mục tiêu thương mại hóa kết quả nghiên cứu của KIST và các viện nghiên cứu được chính phủ hỗ trợ. Tiếp đó là tập đoàn phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả R&D trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Năm 1986 Luật Tài chính đối với công ty vừa và nhỏ được ban hành. Theo đó, nhiều công ty đầu tư đã cung cấp tài chính cho hoạt động của loại hình doanh nghiệp này. Thông qua hoạt động của mình, các tập đoàn đầu tư phát triển công nghệ đã mở rộng phạm vi cấp vốn thông qua các biện pháp đầu tư cổ phần trực tiếp, giấy nợ có thể chuyển đổi, cho vay, trái phiếu… hoặc thực hiện các dịch vụ tư vấn, cung cấp dịch vụ đại lý và cho thuê tài chính. Nhờ đa dạng hóa hoạt động, các tập đoàn đầu tư và ngân hàng công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định để thương mại hóa nhanh kết quả nghiên cứu tạo ra.
Khắc phục những vấn đề còn hạn hẹp trong quan hệ trao đổi thông tin và thương mại, ở tầm vĩ mô, bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Trung tâm thương mại hóa nghiên cứu phát triển (CRDC), có vai trò xúc tiến chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả được tạo ra từ các trường đại học và cơ quan nghiên cứu sang các ngành công nghiệp. Trung tâm phải đảm bảo chi phí trong điều kiện bình thường; chuẩn bị vốn đầu tư và đề nghị thực hiện các dịch vụ quản lý, tư vấn thị trường cho các doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ mới.
Phát triển những nhân tố mới trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Hàn Quốc thành lập nhiều Trung tâm nghiên cứu hợp tác thực hiện chức năng chuyển giao miễn phí tài sản nghiên cứu của các tổ chức được nhà nước hỗ trợ sang cho các ngành sản xuất; tư vấn và cung cấp thông tin chuyên biệt trong các lĩnh vực công nghệ. Quan hệ liên kết giữa các Trung tâm là nhân tố quan trọng thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đó cũng là giải pháp để củng cố và phát triển thị trường công nghệ trong công nghiệp hóa.
Chiến lược quan trọng để nâng cao trình độ tiếp thu công nghệ của doanh nghiệp là hợp tác nghiên cứu phát triển theo chiều dọc tại khu vực tư nhân. Giải pháp này đã giúp doanh nghiệp nhanh chóng chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm hoặc quy trình thương mại thích hợp. Hợp tác chiều dọc, thực hiện những nghiên cứu phát triển của các cơ quan nghiên cứu đã giúp nhiều doanh nghiệp nâng cao được trình độ công nghệ, nhờ vậy có điều kiện để tự phát triển vươn lên.
Nguồn: Khoa học và phát triển, 23/06/2006








