Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 13/06/2013 22:22 (GMT+7)

Hải đảo ở vùng biển tây nam (2)

>> Hải đảo ở vùng biển tây nam

>> Hải đảo ở vùng biển tây nam (3)

Hiện nay, ngoài đồn Biên phòng 704, hải quân, hải đăng và tổ an ninh tự quản khóm 1, thị trấn Sông Đốc làm nhiệm vụ trên đảo, hòn Chuối còn có 52 hộ ngư dân với khảng 200 nhân khẩu (2007). Ngư dân trên ở đây chủ yếu làm nghề giăng câu, đi biển, đời sống còn nghèo. Trên đảo không có đường bộ. Nước ngọt phục vụ sinh hoạt rất hiếm, chủ yếu là chở từ đất liền ra. Nhằm tạo mạch nguồn nước thiên nhiên trên đảo, hiện tại công tác trồng rừng và bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm ngặt. Chỗ ở của người dân cũng không ổn định phải di dời theo mùa, 6 tháng ở ghềnh chướng (sườn đông), 6 tháng ở ghềnh nam (sườn tây).

Hòn Buông(2)còn có tên là Ile Rockynằm ở  8 053’ vĩ độ Bắc và 104 034’ kinh độ Đông, cách hòn Chuối 8km về hướng nam-đông nam. Hòn Buông chỉ là những khối đá chồng chất lên nhau. Giữa các tảng đá là những thân cây bần biển với tàn bầu tròn trải rộng.

Về mặt cấu tạo địa chất, hòn Chuối và hòn Buông thuộc loại đá silic, hạt nhuyễn, đen và chắc (3).

Cụm Hòn Đá Bạc là một cụm 2 hòn đảo thuộc xóm Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, cách thành phố Cà Mau 50km đường thủy. Hòn có diện tích 6,43ha, nằm chếch về phía tây nam bán đảo Cà Mau, là cụm đảo đẹp gồm 3 đảo nằm sát bờ biển.

Trên đảo có nhiều cảnh đẹp như sân Tiên, giếng Tiên, bàn chân Tiên, bàn tay Tiên, chùa Cá Ông nằm trong một hệ sinh thái thực vật phong phú. 

Đảo có cơ sở lưu trú và nhà hàng. Đây là địa điểm tham quan của du khách cũng như cư dân Cà Mau. Ở trên đảo có đôi rồng đang vươn mình ra biển khơi. Hiện đã có cầu bắc ra đảo nối với đất liền.

Sau năm 1975, hòn Đá Bạc là nơi diễn ra chuyên án CM12 của lực lượng công an nhân dân, đánh bại cuộc nhập biên phá hoại của bọn phản động lưu vong nước ngoài kết hợp với các thế lực thù địch trong nước do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu (4).

Vùng biển của tỉnh Kiên Giang rộng gần 100.000km 2, đường bờ biển dài 200km, có 105 hòn đảo (5)(70 đảo có người ở). Trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc (573km 2), xa nhất là đảo Thổ Chu (cách thành phố Rạch Giá 110 hải lý). Phần lớn các đảo của Kiên Giang thuộc 5 quần đảo: Hà Tiên (Hải Tặc), Bà Lụa, An Thới, Nam Du và Thổ Chu (6).

Kiên Giang có 14 thành phố, thị xã, huyện thì đã có đến 7 đơn vị hành chính trên đất liền giáp biển Tây Nam: huyện An Minh, huyện An Biên, huyện Châu Thành, thành phố Rạch Giá, huyện Hòn Đất, huyện Kiên Lương, thị xã Hà Tiên và 2 huyện đảo: huyện Kiên Hải, huyện Phú Quốc (7).

Biển Kiên Giang là biển cạn, cách xa bờ hàng chục kílômét mà độ sâu vẫn không quá 10m. Độ sâu trung bình của biển từ 25-30m, nơi sâu nhất 50m. Nước biển ven bờ mang nhiều phù sa nên đục, có màu hơi vàng, ngoài khơi xa nước biển trong, màu xanh lơ. Nhiệt độ trung bình của nước biển là 27 0C. Đây là môi trường thuận lợi cho các loài hải sản sinh sống và phát triển, quanh năm đều có thể đánh bắt được.

Bờ biển Kiên Giang chạy từ rạch Tiểu Dừa giáp ranh với tỉnh Cà Mau đến tận Hà Tiên, giáp biên giới Campuchia. Hàng năm, bờ biển được phù sa bồi đắp khá nhanh, mỗi năm tiến ra biển được 3m (8).

Kiên Hảilà một trong 2 huyện đảo của tỉnh Kiên Giang, 1 trong 9 huyện đảo của cả nước, thành lập ngày 29-3-1983. Vị trí huyện nằm giữa biển Tây: phía bắc giáp huyện Hà Tiên và huyện Hòn Đất, nam giáp huyện An Biên và huyện An Minh, đông giáp thị xã Rạch Giá và huyện Châu Thành, tây giáp huyện Phú Quốc; tọa độ địa lý khoảng từ 104 025’- 104 040’ kinh độ Đông và 9 037’- 9 058’ vĩ độ Bắc (9), cách trung tâm thành phố Rạch Giá về hướng đông từ 30-100 km đường biển.

Khi mới thành lập huyện, Kiên Hải có 6 xã đảo và quần đảo, bao gồm: xã Hòn Tre (nơi đặt trụ sở hành chính của huyện), xã An Sơn (quần đảo Nam Du), xã Lại Sơn, xã Hòn Nghệ, xã Sơn Hải (quần đảo Bà Lụa) và xã Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc).

Đến năm 1987, xã Tiên Hải được sáp nhập về thị xã Hà Tiên. Năm 2000, xã Hòn Nghệ và xã Sơn Hải nhập vào huyện Kiên Lương. Huyện Kiên Hải hiện gồm 4 xã là Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn, Nam Du; diện tích tự nhiên 27,85 km 2; gồm 23 đảo, trong đó xã An Sơn có 21 đảo (10).

Huyện Kiên Hải gồm 73 đảo, trung tâm hành chính đặt tại Hòn Tre. Hình thể huyện Kiên Hải là 3 cụm đảo và quần đảo nằm trong vùng vịnh Rạch Giá. Xã Hòn Tre trên đảo Hòn Tre; xã Lại Sơn trên đảo Sơn Rái, xã này cách trung tâm hành chính huyện 25km; xã An Sơn gồm 21 đảo của quần đảo Củ Tron (Nam Du) cách trung tâm hành chính huyện 55km.

Chú thích:

1. Khoảng 30ha, Sơn Hồng Đức, Vịnh Thái Lan, Trăm hoa miền Tây xuất bản, Sài Gòn, 1973, tr.79

2. Mục từ “Hòn Buông” chứa nhiều thông tin không chính xác khi cho rằng: “Hòn Buông: hai đảo nhỏ và thấp cách nhau 200m, ở cách bờ biển huyện Ngọc Hiển thuộc tỉnh Cà Mau 26km về phía Tây. Có rừng ngập mặn” ( Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2, Sđd, tr.350). Trong sách Sổ tay đại danh Việt Nam(Tái bản có chỉnh lý, bổ sung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002) của Đinh Xuân Vịnh, Hòn Buông lại bị in nhầm thành Hòn Bương và được giải thích: “Đảo nhỏ cách đảo Hòn chuối 7km về phía đông nam, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, cách bờ biển 27km về phía Tây” (tr.304).

3. Sơn Hồng Đức, Sđd, tr.79-80

4. Chu Viết Luận (chủ biên), Cà Mau thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006, tr.42-43

5. Ngày 30-8-2005, sở Tài nguyên – Môi trường Kiên Giang công bố báo cáo về kết quả kiểm kê đất đai năm 2005. Vùng biển Kiên Giang hiện có 140 đảo nổi (43 đảo nổi có dân cư sinh sống), tạo nên 5 quần đảo với tổng diện tích tự nhiên 62.834,79ha. ( Báo Lao động, ngày 31-8-2005).

6. Lê Thống (chủ biên), Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, Tập 6, Các tỉnh và thành phố đồng bằng sông Cửu long, Nxb Giáo dục, 2006, tr.324.

7. Lê Phước Dũng, Thế Thị Phương (chủ biên), Tập bản đồ hành chính Việt Nam, Nxb Bản đồ, 2009, tr.78. Trong cuốn sách Công ước Biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam(tr.394) mặc dù xuất bản vào tháng 11-2008 nhưng chỉ ghi có 8 đơn vị hành chính của tỉnh Kiên Giang giáp với biển, thiếu huyện Kiên Lương.

8. Trần Xuân Hoàng (chủ biên), Kiên Giang điểm hẹn, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.33-34

9. Đoàn Nô, Lịch sử Kiên Giang (1836-2005), Ban Thường vụ Huyện uỷ Kiên Hải, 2005, tr.3

Một tài liệu khác ghi là: 104 020’-105 0Đông và 9 037’-10 0Bắc (Lê Hồng Chương, Từ điển đơn vị hành chính Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, 2007, tr.348).

10. Đoàn Nô, Sđd, tr.3


Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.