Hai chữ "Hàn" trong thơ cổ
Đúng thế trong đời thường người ta sợ chữ hàn. Nhưng trong thơ văn có nhiều chữ hàn được muôn người nhắc nhở. Tôi muốn đề cập đến một chữ bên Trung Quốc và một chữ ở nước ta.
Tráng sĩ Kinh Kha thời chiến quốc(403-256 tr CN) là một nhân vật lịch sử được tô vẽ với nhiều huyền thoại. Tuy không phải là người nước Yên, nhưng vì cảm ân đức của Thái tử Đan nên Kinh Kha đã nhận lấy sứ mạng cực kỳ nguy hiểm là sang Tấn để hành thích Tần Thuỷ Hoàng. Hôm tống biệt bên bờ sông Dịch, Thái tử Yên Đan trao kiếm báu cho Kinh Kha. Con người đầy dũng khí này vừa múa kiếm vừa ngâm:
Phông tiêu tiêu đề Dịch thuỷ hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn
(Gió thổi vù vù chừ sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi chứ không trở lại)
Kinh Kha đã “bất phục hoàn”, đã không trở lại vì ... trời chẳng chiều người. Dũng sĩ đã hy sinh! Nhà Tần tiêu diệt tất cả sáu nước, thống nhất Trung Quốc nhưng rồi cũng sớm suy vong (221-206 tr.CN). Dòng sinh diệt tiếp nối không ngừng, nước cứ qua cầu và lịch sử cứ sang trang ... Đến đời Đường (618-907 tr.CN) nhà thơ Lạc Tân Vương chạnh nhớ đến Kinh Kha, rất chú trọng chữ “Hàn” trong một bài thơ ngũ tuyệt nhan đề Dịch thuỷ tống biệt:
Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thuỷ do hàn!
Tạm dịch:
Chốn này giã biệt Yên Đan
Múa gươm khảng khái xung quan, trĩu hồn
Người xưa tuyệt bóng từ hôm ...
Mà nay sông Dịch hãy còn lạnh ghê!
(Xung quan ý nói lòng rất khảng khái khiến tóc dựng đứng nâng mũ lên)
Trong trường hợp này chữ hàn/ lạnh được nhắc đến hai lần, lần đầu do chính miệng Kinh Kha, lần sau do nhà thơ Lạc Tân Vương viết. Ở đây ta muốn biết hai cảm giác này có khác nhau không và khác như thế nào, nếu có.
Thong thả ngâm lại sáu câu thơ trên đây ta thấy cả hai chữ hàn đều có nghĩa là lạnh, nhưng lại khác nhau rõ rệt. Cảm giác lạnh của Kinh Kha xuất phát từ thiên nhiên, từ ngọn gió thổi vù vù ( phong tiêu tiêu hề...). Chính hơi lạnh bên ngoài làm tăng nhiệt độ ngọn lửa vĩ đại nghĩa bên trong. Còn cảm giác lạnh của Lạc Tân Vương đến từ dòng sông tâm lý. Đang ngồi trong phòng ấm, nếu thả hồn tưởng nhớ chuyện Kinh Kha, lập tức ta cảm nhận được hơi lạnh của Sông Dịch từ buổi ấy trở về. Đây là cái lạnh của hoài niệm, của tiếc thương, của khâm phục và cả của lòng kinh sợ (hàn còn có nghĩa là sợ). Có thể nói Lạc Tân Vương đã lạnh cái lạnh chung của hậu thế về chuyến sang sông Dịch của Kinh Kha. Và tưởng cũng nên nói thêm rằng nếu không có ba chữ Dịch thuỷ hàn của dũng sĩ thì nhà thơ Đường khó hạ được hai câu thơ đối sáng giá:
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thuỷ do hàn.
Trở về nước ta, bài ngôn hoài của Thiền sư Không lộ có một chữ Hàn khiến tôi vô cùng bối rối. Bài thơ như sau:
Trạch đắp long xà địa khả cư,
Dã tình trung nhật lạc vô dư,
Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
(Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi tình quê những mảng vui,
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng lạnh bầu trời.
Ngô Tất Tố - Văn học đời Lý)
Theo tập Văn học đời Lý, thiền sư họ Dương, người ỏ Hải Thanh, thuộc gia đình đánh cá, tự mình theo Phật, vào tu ở chùa Hà Trạch vào khoảng 1059 - 1066 đời Lý Thánh Tông và liễu đạo năm 1119 đời Lý Nhân Tông.
Sau khi tu đắc đạo, sư có tài hàng long phục hổ, có thể bay trên không hay đi trên mặt nước, thi thố nhiều di thuật khác. Sư thân cận với Giác Hải thiền sư.
Hai câu cuối bài trên đây được Ngô Tất Tố giảng giải như sau:
Những lúc vô sự có khi lên thẳng đỉnh núi, chúm môi thổi một hồi sáo. Núi cao cảnh vắng, tiếng sáo như làm lạnh cả bầu trời. Phóng khoáng biết chừng nào!
Đem so với ba chữ Dịch thuỷ hànhay Thuỷ do hànở trên kia thì ba chữ hàn thái hưphóng khoáng vô cùng. Cái lạnh của sông Dịch chỉ hạn hẹp trong vùng còn cái lạnh của thái hư thì thật bao la vô cùng tận. Nếu bảo tôi dịch thì tôi chỉ xin chép lại lời giảng trên vì bao năm nay tôi vẫn còn trì độ, chưa có chút gì gọi là hội được sự kiện hàn thái hư.
Tôi từng tự hỏi: thái hư thuần âm hay thuần dương, Thái hư hàn hay nhiệt, hay phi hàn phi nhiệt, ai có thể biến đổi nhiệt độ của thái hư, việc trường khiếu nhất thanhcó ý nghĩa gì đối với sư, đối với người đời.v.v...
Gần đây, thấy tôi lúng túng như gà vướng tóc, một thức giả ôn tồn nhắc:
- Trong lãnh vực thiền không nên chấp nhặt lời nói. Dù Thiền sư Không Lộ có thổi sáo miệng hay thi triển công phu sư tử hống làm cho bầu trời lạnh hay nóng lên thì cứ xem đó là cách hành giả xúc chạm... thái hư trong hoàn cảnh cá biệt. Có lắm điều bất khả tư nghì. Chữ hàn mà sư dùng đã ra ngoài vòng đối đãi nóng lạnh, đã thoát khỏi vỏ bọc hạn hẹp của ngôn ngữ. Phải chăng nó đã biến thành ba dấu chấm để người sau tuỳ căn cơ mà diễn tả nội tâm mình, nếu muốn. Cho riêng mình nghe, ta có thể tự do ngâm:
Trường khiếu nhất thanh hoà thái hư,... hoàn thái hư hay rốt lại... hàn thái hư...
Cái Hàn của dũng sỹ có lẽ đã lắng vào cái Hàn của tu sỹ. Thiền học Lý Trần vi diệu lắm rồi, đâu phải chỉ một Ngôn hoàicủa thiền sư Không Lộ.
Tôi tạ ơn và hoan hỷ kính ghi lại đây, mong có duyên được nghe thêm nhiều lời chỉ dạy của bậc cao minh.
Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay, số 246 - tháng 10/2005, trang 35.








