GSBS Nguyễn Chấn Hùng giới thiệu máy thiện xạ trị gia tốc thẳng Clinac 2300 C-D 16-18 Mev trong buổi lễ khánh thành Khu xạ trị gia tốc
Theo ý kiến của GSBS Nguyễn Chấn Hùng - Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu, chủ tịch Hội phòng chống Ung thư TPHCM: Việc xử lý tận gốc bệnh ung thư di căn bằng các chiến lược hiện có vẫn còn hết sức khó khăn. Muốn thiết kế được các liệu pháp hiệu quả đối với ung thư di căn thì cần phải hiểu rõ hơn các chuyển biến ở cấp độ tế bào và phân tử trong quá trình hình thành sự di căn.
Hai đường đi của di căn là các mạch lymphô và các mạch máu. Theo xếp hạng lâm sàng, di căn được chia thành hai nhóm: nhóm tại các hạch vùng (thường được gọi là lan tràn theo hệ tuần hoàn lymphô) và nhóm mọc lên ở các cơ quan và các vị trí xa hơn (thường lan tràn theo hệ tuần hoàn máu). Trước kia, hai con đường này được cho là độc lập với nhau, nhưng thực ra lại thông thương với nhau, không phải là riêng biệt.
Các loại ung thư khác nhau có cách lan tràn khác nhau. Các bướu ở đầu cổ thường lan tràn tới các hạch lymphô vùng và trễ lắm mới cho di căn xa; do đó các liệu pháp khu trú (gồm cả việc điều trị hạch vùng) có thể trị khỏi. Trái lại, ung thư vú có thể lan tràn sớm đến các vị trí ở xa, việc xâm nhiễm ở hạch vùng lại tương ứng với sự hiện hữu của di căn xa, khoảng 25% các bệnh nhân không có hạch di căn tại các vùng lúc điều trị ban đầu, sau đó lại thấy có di căn xa, vì vậy việc không có di căn hạch vùng chưa thể loại trừ khả năng di căn xa theo đường máu.
Người ta nhận thấy các di căn từ một số loại ung thư có khuynh hướng phát triển ở một số cơ quan đặc hiệu; thí dụ: carcinôm tuyến tiền liệt thường di căn tới xương; mêlanôm da thường di căn tới gan, não, ruột; ung thủ thận tế bào sáng thường di căn tới phổi, xương, thượng thận; bướu nguyên bào thần kinh thường di căn tới gan, thượng thận…
Phổi, gan, hạch lymphô, xương và não và vị trí di căn thường gặp. Nhận thấy sự lan tràn của ung thư đến các vị trí đặc hiệu, Paget đưa ra thuyết “ đất ươm và hạt mầm”, ý muốn nói sự tương tác giữa tế bào ung thư và cơ quan chủ có ảnh hưởng đến sự thuận lợi nhiều hay ít cho sự di căn.
Cách giải thích khác về “sự ưu ái cơ quan di căn” dựa vào nhận định huyết động học: số các di căn phát triển ở một cơ quan liên quan đến số tế bào ung thư được dòng máu đưa đến và số tế bào bị chận lại trong các mao quản.
Thật ra, hai giả thiết “đất ươm và hạt mầm” và “thuyết động học” có thể bổ sung cho nhau. Các tế bào luân lưu trong dòng máu trước hết phải dừng lại ở các mạch máu nhỏ của một cơ quan (thường là mạng mao quản đầu tiên mà chúng ta gặp) rồi chúng sẽ tăng trưởng khi nào cơ quan này cung cấp một môi trường nuôi dưỡng thích hợp.
Vị trí ban đầu của di căn thường là cơ quan chứa mạng mao quản đầu tiên (trạm đầu) mà các tế bào ung thư gặp được sau khi bướu nguyên phát thải ra. Đối với các bướu mà máu nuôi dẫn về các tĩnh mạch toàn thân thì cơ quan này là phổi, còn đối với các bướu mà dẫn lưu là tĩnh mạch cửa thì các cơ quan trạm đầu là gan. Như vậy là có các cơ quan trạm đầu của di căn, rồi từ đó, các di căn lại lan tràn đến các cơ quan khác (đặc hiệu bướu).








