Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/08/2022 14:02 (GMT+7)

GS-TS Vũ Văn Liết: “Hạnh phúc trong nghiên cứu là làm ra sản phẩm bán được”

Chất nông nghiệp toát ra rất đậm ở GS-TS Vũ Văn Liết từ cách ăn mặc giản dị đến nụ cười rộng mở và cả giọng nói đặc sệt Hải Dương mà ông thừa nhận là không hề thay đổi từ khi cha sinh mẹ đẻ.

Ông giáo “chân quê” giỏi ngoại giao
“Nhiều người - kể cả nông dân - bảo rằng ai lại làm lãnh đạo mà không mặc đồ xịn, không chú trọng hình thức, cứ xắn quần lội ruộng như tôi. Nhưng tôi nghĩ mình làm gì, chải chuốt hay không thì mình vẫn là mình thôi” - GS Vũ Văn Liết - Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam - giải thích về vẻ bề ngoài của mình.
Điều bất ngờ là con người trông rất mộc mạc, chân quê này lại có tiếng là ngoại giao rất tốt, có lẽ vì ông dễ dàng tạo được sự tin cậy ở người khác. Nhờ khả năng này, ông được giao nhiệm vụ phụ trách mảng hợp tác quốc tế của Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Vị giáo sư chia sẻ với vẻ tự hào: “Trong nhiệm kỳ lãnh đạo ở trường, tôi đã giúp 24 cán bộ đi học thạc sỹ ở nước ngoài và đào tạo 5 thạc sỹ tiếng Anh. Tôi tìm đủ mọi cách để tìm kiếm học bổng cho cán bộ đi học, bởi tôi nghĩ kiến thức chuyên môn phải luôn cập nhật với thế giới thì mới hội nhập toàn diện được, mà muốn vậy phải có ngoại ngữ”.
GS-TS Vu Van Liet: “Hanh phuc trong nghien cuu la lam ra san pham ban duoc”
Giáo sư Vũ Văn Liết. Ảnh: Lê Long
Nhân nói về tầm quan trọng của ngoại ngữ, GS Liết kể chuyện chính khả năng tiếng Anh đã giúp ông hoàn thiện kiến thức và cải thiện kinh tế như thế nào: “Hồi bao cấp, tôi hay đi các địa phương để chuyển giao kỹ thuật, mỗi ngày được 5.000 đồng và một bữa ăn trưa. Kinh tế gia đình hồi đó khó khăn lắm. Hai vợ chồng nuôi lợn cả năm bán đi mới mua được một chỉ vàng. Có dịp tôi được mời đi làm cho một dự án của nước ngoài ở Quảng Ninh. Hồi đó tiếng Anh vẫn còn bập bẹ, vậy mà đi làm có hai tuần, tôi vỡ ra được nhiều kiến thức mới, còn lương thì bằng cả năm nuôi lợn”.
Và rồi, cả cái tài ngoại giao, hội nhập hay vốn liếng ngoại ngữ ấy, ông đều dùng vào việc phục vụ nghề nông. Đời nghiên cứu của GS Liết gắn với các giống lúa thuần bởi những ngày tháng gắn bó với nông dân giúp ông nhận thấy nếu tạo ra được giống thuần, người dân sau thu hoạch có thể giữ lại giống cho vụ sau mà không phải mua giống với giá cao.
“Lăn lộn với cây lúa, giống lúa rồi những vụ bão lụt, mất mùa, sâu bệnh hại, tôi thấy gắn bó và thương người nông dân hơn. Tôi tìm hiểu sâu về sản xuất và canh tác của nhiều dân tộc và chính những người nông dân cho tôi nhiều bài học. Chẳng hạn người Mông có gà Mèo, cải Mèo - những giống họ chọn tạo có khả năng thích nghi và chất lượng cực kỳ cao mà các dân tộc khác không làm được” - GS Liết nói.
Trong hàng chục giống lúa quý mà ông chọn tạo, lúa hương cốm, hương Việt... được đánh giá là đầu bảng về lúa thuần chất lượng cao của Việt Nam. “Đặc biệt, giống lúa nếp cẩm DH6 cấy được cả 2 vụ. Loại gạo này có thể dùng làm thực phẩm chức năng với tác dụng chống viêm nhiễm, kháng ung thư” - GS Liết cho biết.
7 năm lãnh đạo không nhận lương
GS Vũ Văn Liết bày tỏ quan điểm: “Với tôi, hạnh phúc trong nghiên cứu là làm ra sản phẩm bán được. Bán được có nghĩa là người dân họ chấp nhận và họ cần. Những sản phẩm chưa bán được, tôi cải tiến để đáp ứng yêu cầu người dùng”. Bởi vậy, việc Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng mà ông đang lãnh đạo có đến 11 trong tổng số 20 giống lúa lai được công nhận của cả nước đối với ông là một thành tựu đáng tự hào. Để có được kết quả đó, ông và các đồng nghiệp đã nắm tay nhau vượt qua những ngày tháng vô cùng khó khăn, thậm chí cả nguy cơ giải thể.
“Tháng 10/2006 tôi về viện, cán bộ đã hơn 3 tháng chưa có lương. Tôi bảo mọi người là thầy chưa có tiền “nuôi” các em, nếu các em tìm được chỗ khác tốt hơn thì cứ đi; nhưng họ nhất quyết không đi và đó là động lực để tôi xây dựng chương trình nghiên cứu và yêu cầu tập trung triển khai” - GS Liết nhớ lại. Ban đầu, ông tập trung nghiên cứu lúa, cử mọi người đi khắp nước thu thập các giống lúa địa phương nhằm chọn ra giống phù hợp nhất để phát triển. Khi đã có nhiều thành công về lúa, viện nghiên cứu thêm ngô, đậu tương, rau.
Xác định rằng phải có sản phẩm thì thầy trò mới nuôi được nhau nên GS Liết khuyến khích các đồng nghiệp nghiên cứu giống mới. Hiện giống lúa lai ba dòng CT16 của viện đã được nhân rộng gần như khắp cả nước, nhiều nhất là ở Thanh Hóa, Nghệ An. Viện đã có 4 giống ngô nếp được bán bản quyền và chọn tạo được hai tổ hợp ngô lai lá đứng.
Giải thích về lý do chọn tạo 2 tổ hợp ngô này, ông cho biết, hiện năng suất ngô của Việt Nam thấp hơn mức bình quân của thế giới (4,5 tấn/ha so với 5,6 tấn/ha) nên cần có giống ưu thế lai lá đứng để có thể trồng ngô với mật độ cao do cây không chiếm nhiều diện tích. Mật độ phổ biến ở Việt Nam là 57.000 cây/ha, GS Liết đẩy lên 83.000 cây/ha, giúp năng suất ngô cao hơn.
7 năm làm lãnh đạo viện, GS Liết chưa hề nhận một đồng lương nào, bởi ông nghĩ, “khi người lãnh đạo công tâm, chịu hy sinh thì sẽ thành công”. Ở viện, nhiều đồng nghiệp 2 lần gọi ông là bố - khi vào trường nông nghiệp và khi được ông hướng dẫn làm tiến sỹ.
ThS Nguyễn Văn Hà - Phó Trưởng phòng Cây trồng cạn, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng- tâm sự: “Hồi tôi mới ra trường, tuy nói là học nông nghiệp nhưng làm việc chưa đâu vào đâu. Chính thầy Liết là người cầm tay chỉ việc. Mặc dù thầy là lãnh đạo nhưng luôn sẵn sàng lội xuống ruộng, chỉ cho chúng tôi từ cách cầm cuốc, vun thế nào, chọn cây chọn dòng ra sao, lai tạo như thế nào”.
Nhắc đến học trò, có một kỷ niệm làm ông xúc động mãi: Một buổi tối đi làm về muộn của năm 2000, đến nhà mình trong khu tập thể cũ gần trường, GS Liết sợ toát mồ hôi bởi không biết xảy ra việc gì mà rất đông người tụ tập. Hóa ra là học trò khóa 45 và lớp cao học đến tổ chức sinh nhật cho thầy.
“Tôi có nhớ sinh nhật mình bao giờ đâu. Từ bé đến tuổi đó, lần đầu tiên được tổ chức sinh nhật nên tôi rưng rưng nước mắt” - ông trầm giọng. Có lẽ, ngoài các giống lúa, ngô thì tình cảm của học trò chính là tài sản lớn nhất mà GS Liết tích lũy được trong cuộc đời làm khoa học của ông.
GS-TS Vũ Văn Liết sinh năm 1954 tại Hải Dương, tốt nghiệp chuyên ngành trồng trọt tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 1982, bảo vệ luận án tiến sỹ chuyên ngành nông học năm 1996, là Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Hà Nội từ năm 2007-2012.
Ông đã chủ trì và tham gia 10 đề tài, dự án khoa học các cấp; hướng dẫn 8 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sỹ và 29 nghiên cứu sinh bảo vệ luận văn thạc sỹ.
GS Liết là tác giả của 45 bài báo công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, 6 giáo trình về chọn giống và bảo tồn quỹ gene. Một số sách đã xuất bản do ông chủ biên: Sản xuất giống và công nghệ hạt giống; Quỹ gene và bảo tồn quỹ gene; Kỹ thuật sản xuất hạt giống rau.

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.