Gốm Việt Nam truyền thống
Tuy nhiên gốm Việt vẫn được sản xuất tại các làng nghề, nằm rải rắc khắp đất nước. Mỗi làng nghề có một bí quyết chế tác riêng và mang một phong cách mỹ thuật riêng, khiến cho gốm Việt trở nên đa dạng. Những trung tâm sản xuất như Bát Tràng, Thổ Hà, Chu Đậu đã nổi tiếng từ lâu, thậm chí sản phẩm của những nơi đó còn trở thành đồ cống nạp sang Trung Quốc, là nơi đã sản sinh ra đồ sứ nổi tiếng khắp thế giới. Đến thế kỷ XV, gốm Đại Việt được đưa đến nhiều nơi ở Châu Á, nó trở thành gốm Giao Chỉ dùng trong trà đạo ở Nhật Bản, trở thành đồ gia dụng và trang trí trong các tiểu vương quốc Mã Lai, Java, sang tận Philippin và được đem đi xa đến Iran và Thổ Nhĩ Kỳ... Giữa thế kỷ thứ XVII, khi các trung tâm sản xuất đồ sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị tàn phá vì chiến tranh, các tàu buôn phương Tây lại phải tìm đến Đại Việt để mua đồ gốm chở sang Châu Âu. Điều đó cho thấy gốm Việt đã có một vị thế đáng kể trên thị trường thế giới. Tuy không thể so sánh với sự tinh tế mỏng nhẹ của đồ sứ Trung Hoa, nhưng gốm Việt vẫn tạo cho mình một phong cách riêng, thể hiện trong sự tạo dáng của đồ thờ như chân đèn, lư hương, thể hiện trong đường nét trang trí phóng túng gần gũi với thiên nhiên của những lọ, bình, vại.... đến ngày nay vẫn còn đem lại nhiều cảm hứng cho người thưởng thức.
Từ cuối thế kỷ XIX, sản xuất gốm Việt Nam bắt đầu suy tàn, nhất là trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều trung tâm gốm đã bị tàn lụi khiến nhiều kỹ nghệ chế tác và làm men bị thất truyền. Trong khi giới thượng lưu chuyển thị hiếu sang đồ sứ Trung Quốc, thì các làng nghề chỉ còn sản xuất gốm gia dụng cho tầng lớp bình dân như bát đàn, chum vại, tiểu sành. Tuy nhiên nó vẫn bảo đảm cho việc duy trì cuộc sống của những trung tâm gốm ở Thanh Hoá và các tỉnh trung Trung bộ như Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, những địa điểm sau là sản xuất gốm truyền thống của người Chăm với những lò nung lộ thiên. Ở Nam bộ, do ảnh hưởng của làn sóng di dân của người Hoa, gốm dân gian mang sắc thái Trung Hoa rõ rệt, với đồ thờ và đồ trang trí nhiều màu sắc. Rồi từ năm 1907, khi trường Mỹ nghệ đồ gốm được người Pháp xây dựng ở Đồng Nai, thì nó đã mở ra ở phía nam một dòng gốm nhẹ lửa có màu sắc phong phú tồn tại đến tận ngày nay.
Gốm Việt Nam chỉ thực sự được hồi sinh khi đất nước bước vào giai đoạn Đổi Mới từ năm 1986. Nhưng phải nói rằng thành quả của giai đoạn này đã được kế thừa từ những nghiên cứu và thử nghiệm trước đó của nhiều chuyên gia về gốm và các nghệ nhân gốm thời xưa còn sót lại, tập hợp quanh Trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Chính nhờ những sự tìm tòi đó mà nhiều sắc men xưa đã được phục hồi, như men ngọc, men thuý hồng (sang de boeuf), nhiều mẫu trang trí xưa đã được sưu tập, tạo đà phát triển cho việc phục chế những sản phảm cổ. Sản phẩm gốm ngày nay thể hiện sự đa dạng, đi từ gốm thô bằng đất nung, đến những đồ gia dụng và trang trí tinh tế với nhiều sắc men phong phú. Đặc biệt là ở phía nam, nhiều công ty gốm đã thành công trong việc sản xuất những sản phẩm có kích thước lớn, thể hiện việc làm chủ kỹ thuật trong mọi khâu chế tác. Trong những ngày đầu xuân, chúng tôi mong muốn đem đến với bạn đọc vài hình ảnh của gốm Việt xưa, để ta có thể vững tin vào triển vọng của gốm Việt Nam hiện đại đang bước vào thời kỳ hội nhập mới.








