Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 18/01/2012 21:21 (GMT+7)

Giới thiệu một số bản đồ cổ thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam

I. Thời các chúa Nguyễn (1600 - 1777)

Trong sách Hồng Đức bản đồ có ba bản đồ có liên quan đến thềm lục địa và hải đảo:

1. An Nam quốccó ba bản đồ vẽ toàn thể lãnh thổ Đại Việt và cuối thời Hồng Đức, 13 bản đồ của 13 Thừa Tuyên và 1 bản đồ Trung Đô.

2. Thiên Nam Tứ Chí Lô Đồ Thưgồm nhiều bản đồ, trong đó có những bản đồ vẽ đường lối đi từ Thăng Long đến nước Chiêm Thành.

3. Bình Nam Đồdo Đoan quận công Bùi Thế Đạt (không phải Nguyễn Hoàng) vẽ đường lối đi từ Chiêm Thành đến biên giới Cao Miên (1).

Những bản đồ nêu trên chưa mô tả đầy đủ thềm lục địa và các cửa bể toàn quốc vì đây là những bản đồ thực hiện trong giai đoạn lãnh thổ nước ta đang thời kỳ Nam tiến. Tuy nhiên, đã có những chi tiết của bản đồ xác định chính quyền và nhân dân ta đã khai thác và làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những văn kiện có tính pháp lý của Lê Quý Đôn (1726-1784), Phan Huy Chú (1782-1840),vv…cũng xác quyết như thế.

Trong sách Phủ biên tạp lục (1777), Lê Quý Đôn viết: “Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển. Về hướng Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh… ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng , chiều dài ước chừng hơn 30 dặm…những thuyền lớn đi biển thường khi gặp gió bão đều đến nương đậu ở đảo này. Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh bổ sung…họ Nguyễn còn thiết lập thêm 1 đội BắcHải …quan trên khiến những người trong đội chèo thuyền…ra cù lao Côn Lôn ở giữa Bắc Hải, hoặc đi đến các xứ Cồn Tự vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi…Cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải…” (2).

Hai bản đồ An Namquốc(Hồng Đức 1490) và Vương quốc An Nam(Regnũ Annam, Alexandre de Rhodes 1650) biểu hiện khá rõ thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời.

Bản đồ địa lý sử diên cách Việt Nam (trích sách Hải quốc đồ của Ngụy Nguyên xuất bản năm 1842). Trong Biển Đông tức Đông Dương đại hải có hai quàn đảo Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) và Thiên Lý Thạch Đường (Trường Sa) đều thuộc chủ quyền Việt Nam.

II. Dưới triều Nguyễn thống nhất sơn hà (1802-1862)

Ngày 1-5 Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. 2 tháng sau Gia Long mới thôn tính xong xứ Bắc Hà và tận diệt triều đình Cảnh Thịnh - Nguyễn Quang Toản (con Quang Trung - Nguyễn Huệ). Gia Long để cả năm đầu tiên thống nhất đất nước từ ngoại giao đến nội trị, từ quốc phòng đến hành chính, từ khai thác hầm mỏ đến bảo vệ hải đảo. Ngày 1-7 năm Quí Hợi (1803), sử Thực Lụcghi: Gia Long “lấy cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngữ của biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch làm đội Hoàng Sa” (3). Cửa biển Sa Kỳ thuộc địa phận Quảng Ngãi, nơi đối diện với cù lao Ré tức đảo Lý Sơn.

Đầu năm 1815, sử Thực Lục ghi: Gia Long “sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” (4).

Đầu tháng 6 năm Đinh Sửu (1817), sử Thực Lục ghi: “thuyền Ma Cao đến đậu ở cửa Đà Nẵng, đem địa đồ Hoàng Sa dâng lên. (Gia Long) thưởng cho 20 lạng bạc” (5).

Cuối tháng 6 năm Đinh Sửu (1817), Gia Long “sai bọn Hữu tham chi bộ Công Nguyễn Đức Huyên và Tả tham chi Đoàn Viết Nguyên làm sách Duyên Hải Lục,phía Nam đến Hà Tiên phía Bắc đến Yên Quảng. Phàm các cửa biển, mực nước khi triều lên triều xuống sâu nông thế nào, dặm đường xa gần bao nhiêu, đều phải chép cả. (Bộ sách ấy gồm 2 quyển, chép cả thảy 4 dinh, 15 trấn, 143 cửa biển, dài 5902 dặm, mỗi dặm là 540 trượng)” (6).

Chúng tôi đi tìm sách Duyên Hải Lục,không thấy. Nhưng lại thấy sách Thông QuốcDuyên Cách Hải Chử có nội dung y như sách Duyên Hải Lục , kèm theo các bản đồ duyên hải từ Thừa Thiên đến Hà Tiên. Có lẽ đây là tư liệu đầy đủ nhất mô tả thềm lục địa của ta xưa từ Yên Quảng cực bắc đến Hà Tiên cực nam. Sách Thông QuốcDuyên Cách Hải Chử được thư viện Viện Khảo Cổ Sài Gòn cũ nay là thư viện Khoa học Xã hội (Lý Tự Trọng, Quận 1, TP. HCM) bảo quản dưới mã số HVN 190.

Tháng 8 năm Quý Tỵ (1833) sử Thực Lục ghi: Vua Minh Mạng “bảo bộ Công rằng: trong hải phận Quảng Ngãi, có 1 dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại! Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là 1 việc lợi muôn đời” (7).

Tháng 3 năm Giáp Ngọ (1834), sử Thực Lục ghi: Minh Mạng “sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy, Sĩ tâu: nơi này là bãi cát giữa bể man mác không bờ, chỉ có người nhà Thanh đi lại đánh cá bắt chim mà thôi…nhân đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò, ngao, đã bắt được ở nơi đó đều là những vật lạ ít thấy. Vua vời thị thần đến xem và thưởng những người đi về tiền bạc có khác nhau” (8).

Tháng 6 năm Ất Mùi (1835), sử Thực Lục ghi “dựng đền ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ Vạn Lý Ba Bình (muôn dặm sóng êm). Cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ Đông Tây Nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía Bắc giáp với cồn toàn đá san hô sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái, vua (Minh Mạng) toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thuỷ quan là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyển chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miều cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong, 10 ngày làm xong rồi về” (9).

Hai bản đồ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ (Taberd 1838) và Đại Nam Nhất ThốngToànĐồ (1840) thể hiện khá đầy đủ tình hình thềm lục địa - Biển Đông - hải đảo Việt Nam đương thời.

III. Dưới thời Pháp thống trị (1862-1945)

Năm 1859, Pháp xâm chiếm Sài Gòn. Năm 1862, Pháp lấy miền đông Nam Kỳ làm thuộc địa. Năm 1867, Pháp cưỡng chiếm miên tây Nam Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa Pháp. Năm 1884, Pháp cưỡng ép phần còn lại (sau là Trung Kỳ và Bắc Kỳ) làm xứ bảo hộ của Pháp. Pháp bắt đầu vẽ bản đồ Việt Nam theo kỹ thuật khoa học hơn cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến.

Về phần bờ biển - thềm lục địa - Biển Đông - vịnh Bắc Kỳ - vịnh Xiêm La (Thái Lan) - hải đảo hầu như Pháp trao nhiệm vụ cho hải quân Pháp đo đạc và thực hiện các đồ bản. Những bản đồ này vẽ rõ bờ biển và hải đảo nổi trên mặt nước, đồng thời còn đo đạc và ghi độ sâu gần khắp biển Đông rộng khoảng 1 triệu km 2. Phải kể đó là một kỳ công. Chúng tôi sưu tầm được một số bản đồ xin tạm chia thành 3 khu vực: 1) Hoàng Sa, Trường Sa - 2) Những bản đồ cỡ 54 x 75cm. Thềm lục địa và hải đảo. - 3) Những bản đồ cỡ 74 x 104cm. Thềm lục địa, hải đảo và biển Đông.

1. Hoàng Sa Trường Sa

1. Quần đảo Hoàng Sa(52 x 66cm).Archipel des Paracelsd’après les levés allemands (1881-1883) et les travaux anglais et francais les plus récents. - Service hydrographique de la Marine (Nha thủy văn bộ Hải quân). Paris 1885. - Mars 1940. Edition No.3.

2. Một phần quần đảo Trường Sa (42-45 cm). Iles et récifs à l’est de laCochinchine.Paris 1938. - Iles et récifs Thitu, Loai ta etSubi d’après un levé anglais de 1867-1868.

3 .Chi tiết hai đảo Pattle (Hoàng Sa) và Boisée (Phú Lâm) thuộc quần đảo Hoàng Sa (30 x 42cm).

4. Trong quần đảo Hoàng Sa: đảo Pattle (Hoàng Sa), đảo Robert (Hữu Nhật), đảoBoisée (Phú Lâm).

5. Trong quần đảo Trường Sa I: Đảo Caye du S.W. (Song Tử Tây) đảo Caye del’Alerte (Song Tử Đông), đảo Thi Tu (Thị Tứ), đảo Loai Ta (Loại Ta), đảo Tempête , đảo Itu Aba (Ba Bình), đảoPetley, đảo Namvit (Nam Yết), đảo Cay d’Amboine, đảo Eldad .

6. Bản đồ Réseau météorologique et clima-tologique de l’Indochine(Hệ thống các trạm khí tượng và phong vũ biểu tại Đông Dương). Năm 1927 đặt trạm khí tượng trên đảo pattle(Hoàng Sa) và trạm phong vũ biểu trên đảo Itu Aba(Ba Bình) trong quần đảo Trường Sa (10).

2. Bản đồ cỡ 54 x 75 cm bờ biển và hải đảo.

1. 2311. Golfe de Siam.Dépôt des cartes et plans de la Marine. Paris 1866. - Baie et rivière de Chantaboun. - Poulo Way ou Co Kwang Noi. - Poulo Panjang. - Poulo Obi. - Edition d’Octobre 1922.

2. 5653. Baie et bassin intérieur de Hatien.Carte levée en Mars 1924. Service hydrographique de la Marine.Paris- 1926. Remplacement Juillet 1956.

3. 3686. Plan des Iles Pirates.Levé en 1877. Dépôt des cartes et plans de la Marine. Paris - 1879. - Hòn Kiến Vàng. - Hòn Kéo Ngựa. - Hòn Túc Lớn. - Hòn Tre Vinh.- Hòn Gùi. - Hòn Bánh Ít. - Hòn Chơ Rơ. - Hòn Đước. - Hòn Giong. - Hòn Ụ.

4. 5327. Côte du sud de Phú Quốc. Iles d’An Thới.Plan levé en 1903. - Service hydrographique de le Marine - 1906. - Juillet 1958. Edition No.2. - Hòn Dám Trong. - Hòn Dám Ngoài. - Hòn Dưa. - Hòn Giói. - Hòn Thơm. - Hòn Vang. - Hòn Xương. - Hòn Mong Thay. - Hòn Gam Ghi. - Hòn Vong. - Hòn Kim Qui. - Hòn May Rút. - Hòn Trang.

5. 5509. Du cap Padaran à la baie de Cam Ranh.Carte levée de 1907 à 1930…Service hydrographique de la Marine. Paris - 1915. - Mars 1933. Edition No.2.

6. 5563 Baie de Nha Trang d’après le levé exécuté en 1931… Service hydrographique de la Marine… Paris.1920. Remplacement Janvier 1936.

7. 5447. Port de Tourane.Plan levé en 1908. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1912. Juin 1956. Edition No.6.

8. 5778. Du Lach Truong au Cua Ba Lat d’après les levés exécutés en 1929 et 1930. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1934.

9. 3752. Sông Cầu et du Thuong Giang . Levé en Avril 1877 et Octobre 1878. Dépôt des cartes et plans de la Marine - 1880. Remplacement Février 1935.

3. Bản đồ cỡ 74x104cm. Thềm lục địa và Biển Đông.

1. 5599 -Golfe du Tonkin et détroit d’Hainan (vịnh Bắc Kỳ và eo biển Hải Nam) d’après les documents francais et anglais les plus récents. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1926. Juin 1947. Edition No.3. Bản đồ này vẽ thềm lục địa Bắc Kỳ và phần Bắc Biển Đông ra ngoài khơi tới đảo Triton thuộc quần đảo Hoàng Sa.

2. 5691- Annam et Cochinchine (Trung Kỳ và Nam Kỳ) d’après les documents francais et anglais les plus récents - Service hydrographique de la Marine. Paris - 1932. Novembre 1945. Edition No.3. Bản đồ này vẽ bờ biển thềm lục địa Trung Kỳ - Nam Kỳ và phần Nam Biển Đông ra ngoài khơi tới quần đảo Trường Sa.

Hai bản đồ trên đây vẽ tổng quát Biển Đông và hải đảo Việt Nam, những bản đồ sau này vẽ chi tiết từng phần.

3.  3533 - Carte du delta du Tonkin - Cours du Song Ca (Bản đồ đồng bằng Bắc Kỳ - Đường sông Hồng Hà) levée en 1873-74-75. Dépôt des cartes et plans de la Marine.1877. Corrections essentielles en Sept. 1879.

4. 3925 - Entrée de la rivière de Long Muon.Plan levé en 1880. Dépôt des cartes et plans de la Marine. 1882 - Les fonds paraissent avoir considérablement changés. - Decidé 1913.

5. 3553 - Des rivières et canaux compris entre le Cua Nam Trieu et le Thai Binh (Những sông rạch ở giữa cửa Nam Triệu và sông Thái Bình). Levée en 1873-74-75 - Dépôt des cartes et plans de la Marine - Paris - 1877. - Edition de Juillet 1526. (có bản đồ TP. Hải Phòng).

6. 5562 - De Pak Ha Mun aux iles de Lo Chuc San d’après les levés exécutés de 1912 à 1937. - Service hydrographique de la Marine. Paris - 1921. - Juillet 1939. Edition No.3. (đảo Kế Bào, đảo Cái Bàn).

7. 5856 - De l’ile de la Cat Ba à Pak Hoi d’après les levés exécutés en 1880 et de 1912 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1949. Edition No.2 - Juin 1949 - (Vịnh Hạ Long).

8. 5549 - De la baie d’Halong à Pak Ha Mun d’après les levés exécutés de 1905 à 1938 - Service hydrographique de la Marine. Paris - 1920. - Mai 1944. Edition No 4.

9. 5826 - De l’ile de Lo Chuc San au cap Pak Luong.Carte levée de 1912 à 1934. - Service hydrographique de la Marine. Paris - 1937.

10. 3519 - Delta du Tonkin (Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình) d’après les travaux des missions hydrographiques de 1873 à 1930. Dépôt des cartes et plans de la Marine. - Paris. 1877. Octobre 1932. Edition No.4. Remplacement Juin 1956.

11. 5539 - De Haiphong à la baie d’Halong d’après les levés de 1905 à 1934. Service hydrographique de la Marine - Paris. 1920 Février 1946. Edition No.6. Remplacement Février 1956.

12. 5659 - Du cap Batangan au cap Tourane.Carte levée en 1922 et 1925. Service hydrographique de la Marine. - Paris - 1929. - Remplacement Avril 1945.

13. 5661 - Cu lao Cham et entrée de la rivière de Fai Fo.Levé en 1922.

14. 5660 - De Cu Lao Cham à Huế.Carte levée en 1908 - 1914 - 1922 - 1938. Service hydrographique de la Marine. - Paris - 1928. - Février 1942. Edition No.2.

15. 5898 - De Hon Matt à Hon Né (Phủ Diễn Châu - Thanh Hoá). Carte levée de 1924 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1946. Novembre 1947. Edition No.2.

16. 5899 - De Hon Tseu à Hon Matt (Nghệ An). Carte levée en 1924 et de 1937 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1946. Septembre - 1946. Edition No.2.

17. 658 - De Nui Ong à la baie du Brandon (TP. Vinh). Carte levée en 1924 - 1927 - 1937. Service hydrographique de la Marine. Paris - 1928. - Février 1943. Edition No.3.

18. 5850 - De l’ile du Tigre au cap Chon May Environ de Huế. Carte levée en Mai 1878. Service hydrographique de la Marine. - Paris 1881. - Juillet 1943. Edition No.4.

19. 5684 - Du cap Batangan à la pointe Happoix (Cù lao Ré) d’après le levé exécuté en 1925. Service hydrographique de la Marine. - Paris. 1928. - Remplacement Mars 1945.

20. 3865 - De l’ile Hon Tseu au capLay (Đồng Hới). Carte levée en Mai 1878. Service hydrographique de la Marine. - Paris. 1881. - Janvier 1946. Edition No.3. Remplacement Mai 1956.

21. 5463 - Baie de Tourane (Vịnh Đà Nẵng). Plan levé en 1908. Service hydrographique de la Marine. - Paris - 1913. - Avril 1956. Edition No.4.

22. 5427 - Baie de Cam Ranh. Plan levé en 1907 et 1909. Service hydrographique de la Marine. - Paris 1913. - Mai 1935. Edition No.2. Remplacement Novembre 1960.

23. 5889 - De l’ile Buffle au cap Batangan (Bồng Sơn - Cù lao Ré). Carte levée de 1925 à 1937. Service hydrographique de la Marine. - Paris - 1939.

24. 5857 - De la baie de Cam Ranh au cap Varella. Carte levée de 1907 à 1913 et de 1923 à 1933.Service hydrographique de la Marine. - Paris - 1943.

25. 5655 - De Mui Ban Than (Cap Vert) à Mui Nay (Cap Varella). Carte levée en 1923. Service hydrographique de la Marine. Paris.1928. Remplacement de Juin 1945.

26. 5564 - De la pointe Hon Nai à Mui Ban Than (Cap Vert). Cette carte levée de 1910 à 1913. - Service hydrographique de la Marine. - Paris -1922. - Edition de 1927. Remplacement de Mai 1945. (Nha Trang).

27. 5695 - De la pointe Ké Ga au cap Padaran. Carte levée de 1911 à 1929. - Service hydrographique de la Marine. - Paris -1930. - Octobre 1932. Edition No.2.

28. 5892 - De la pointe Samit à Tian Moi (Ile à l’eau). Carte levée de 1906 à 1907 et de 1936 à 1939. Service hydrographique de la Marine. - Paris -1943. - Remplacement Janvier 1956.

Chú thích :

(1) Bửu Cầm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thuý, Tạ Quang Phát, Trương Bửu Lâm, Hồng Đức bản đồ. Tủ sách Viện Khảo cổ. BQGGD. Sài Gòn, 1962. Trang IX.

(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Tập 1. Lê Xuân Giáo dịch. NXB PQVK-VH. Sài Gòn, 1972. Trang 210 - 212.

(3) Quốc sử quán, Đại Nam thực lục. NXB Sử Học. Hà Nội, 1963. Trang 245.

(4) Như trên, tr.136

(5) Như trên, trang 323.

(6) Như trên, trang 324.

(7) Như trên, tập XIII, trang 52 - 53.

(8) Như trên, Tập XIV, trang 180 - 181

(9) Như trên, Tập XVI, trang 309.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.