Đền Thượng: Lên tiếp 102 bậc thềm nữa đến đền Hùng. Trên đỉnh núi cao 175m mới thấy non sông đất Tổ đẹp đẽ, hùng vĩ, 99 ngọn núi chầu núi Nghĩa Lĩnh, khí thiêng dân tộc Lạc Hồng như hội tụ nơi đây ngùn ngụt dâng lên!.. Tương truyền chính nơi đây vua Hùng thứ 6 đã lập đàn tế Trời cầu thiên tướng xuống giúp nhà vua đánh giặc Ân. Và Phù Đổng Thiên Vương ra đời, Ngài cưỡi ngựa sắt cầm roi sắt tung hoành trên đầu quân giặc. Ngựa thần phun lửa, Thần đồng nhổ que quật tan quân thù, sau đó Ngài mới lên núi Sóc Sơn bay về Trời. Vua Hùng thứ 6 nhớ ơn lập miếu thờ Thánh Gióng. Nơi đây có lăng chính thờ vua Hùng Vương, có cột đá cổ, tương truyền do An Dương Vương dựng lên với lời thề: Đời đời giữ gìn non sông bền vững và trông nom đền miếu các vua Hùng. Nơi đền Thượng còn có chỗ thờ hạt lúa thần (bị Pháp lấy mất năm 1948 - năm 2005 đã khôi phục lại). Tương truyền nơi đây vua Hùng (con cháu Thần Nông) đã lập đàn cúng thần lúa mang lại cơm no áo ấm cho dân Việt. Vào thế kỷ XV, đền Hùng bị giặc Minh phá huỷ, nhưng đến thời Hậu Lê đền được khôi phục lại. Dưới thời Nguyễn, những phần hư nát của đền được xây dựng kiên cố đẹp đẽ hơn. Hội đền Hùng được tổ chức long trọng từ thời Hồng Đức (thế kỷ XV) việc lễ đền do triều đình chủ trì.
Vào thời Nguyễn, dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840) thì hội đền không lớn nữa, do bài vị được đưa về thờ ở miếu Lịch Đại Đế Vương (Huế).
Đến triều Tự Đức (1848 - 1883), Hội đền Hùng lấy lại tính toàn quốc, việc tế lễ do Nhà nước chủ trì mở vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch.
Đền Hùng ngày nay là khu di tích lịch sử đặc biệt của quốc gia. Nhà nước và nhân dân ta đã nhiều lần trùng tu xây dựng thêm nhiều công trình lớn như: Khu Công quán, Nhà Bảo tàng Hùng Vương, Đền thờ Mẫu Âu Cơ trên núi Vân, các Khu triển lãm, tổ chức kế hoạch trồng cây qui mô, mở rộng khu di tích lịch sử về phía Nam. Đầu năm 2006, Bộ Văn hoá Thông tin đã cho phép tỉnh Phú Thọ tiếp tục đầu tư xây dựng thêm Đền thờ Lạc Long Quân bên đồi Sim.Đây sẽ là công trình hỗ trợ cho quần thể đền đài thờ tự Bố Mẹ và 18 đời vua Hùng đã có công dựng nước.
Chương trình Giỗ Tổ chính năm nay dự kiến có rước kiệu (3 kiệu):
- Rước bài vị vua Hùng.
- Rước bánh dày bánh chưng và lễ vật khác.
- Rước hạt lúa thần.
Tất cả nghi lễ được áp dụng theo phong tục cổ truyền. Chính Chủ tịch nước gửi gạo nếp thơm làm nguyên liệu chính để gói bánh dày, bánh chưng giỗ Quốc Tổ. Chính quyền tỉnh Phú Thọ đón nhận số gạo này, rồi giao cho các nghệ nhân (đoạt giải nhất trong hội thi giã bánh dày, gói bánh chưng) thực hiện nấu nướng. Sẽ làm đủ 100 bánh dày, 100 bánh chưng. Nhưng kiệu chỉ rước tượng trưng 18 cặp bánh lễ (gồm 18 bánh dày + 18 bánh chưng), được rước lên tận núi cao đền Thượng để dâng cúng vua Hùng. Ngoài ra còn có đủ lễ vật cúng giỗ gồm Tam sinh (bò, dê, lợn thui nguyên con) hương hoa cây trái, trầu cau, xôi ngũ sắc, rượu mộng…
Trong cuộc rước rồng rắn dài và đông đảo ấy có múa hát xoan hát ghẹo. Hát xoan là lối hát dân gian vùng Phú Thọ, làn điệu phong phú, đệm bằng trống phách (đôi khi có điệu bộ minh hoạ) mà người trình diễn phải được chuẩn bị tập luyện công phu, chỉ để múa hát trong lễ hội đền Hùng. Ngoài múa xoan còn có múa chàm thau, múa trống đồng. Đây là điệu múa cầu mưa cổ xưa của dân tộc Việt Mường (gồm từ 4 đến 9 người) dùng chày giã gạo đầu bịt vỏ cây, hoặc các thanh tre bó lại để gõ lên trống đồng. Mọi người vừa nhảy vừa đánh trống, đặc biệt múa chàm thau là múa bè, tiết tấu phức tạp. Múa đuống tức múa tượng trưng động tác giã gạo (do các cô gái Việt và Mường biểu diễn).
Đặc biệt còn có diễn tích vua Hùng cày ruộng. “Vua” gầy guộc, da mặt rám nắng, vận áo dài thắt đai, đội mũ, chân đi đất, quần xoắn móng lợn, ống thấp ống cao, tay bám cày, tay cầm roi đi theo một con trâu giả tưởng. Vua vừa cày ruộng vừa hát:
Làm vua cho đáng làm vua,
Làm vua phải biết cho vừa lòng dân.
Dân chúng đứng chật ních quanh khoảng ruộng vua cày, hát đế theo:
Thánh quân cho đáng thánh quân
Thánh quân phải biết muôn dân nhọc nhằn.
Những điệu múa hát cổ truyền kéo dài minh hoạ suốt cuộc rước kiệu lên núi cao.
Quốc giỗ mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày mà tất cả con dân Việt Nam ở mọi miền Tổ quốc, và kiều bào ở nước ngoài, không phân biệt tôn giáo, thành phần chính trị, kể cả thời chiến tranh, hai miền Nam Bắc đều tổ chức Giỗ Tổ, cùng hướng về nguồn. Có thể nói đây là một trong những sinh hoạt văn hoá trọng đại của quốc gia, mang ý nghĩa tâm linh, thiêng liêng, là như cầu không thể thiếu trong mỗi người dân Việt. Quốc giỗ vừa mang tính lịch sử, vừa giáo dục toàn dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đậm đà bản sắc con Lạc cháu Hông, tôn vinh và giới thiệu Văn hoá Việt Nam với thế giới.
Với tầm quan trọng trên, Quốc hội nước ta đã long trọng quyết định chọn 10 tháng 3 Âm lịch là ngày nghỉ lễ Quốc Tổ.
Tư liệu tham khảo
(1)Từ điển Bách khoa Việt Nam
(2)Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương – (1951).
(3)LVH, Hành trình về thời đại các vua Hùng – (1982).
(4)Viện Văn hoá Dân gian, Lế hội cổ truyền Việt Nam – (1992).
(5)Việt – Nam – net (tháng 4- 2005).
(6)Báo Văn Nghệ số 16 tháng 4 – 2005, số 14 tháng 4/2006).
(7)Qui hoạch quần thể Đền Hùng (Sở TTVH tỉnh Phú Thọ - 2007).