Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/08/2009 16:25 (GMT+7)

Giáo dục Đại học: Câu hỏi về việc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài

1/ Ở đây, tôi xin được dùng kèm vài từ tiếng Pháp vì tiếng Việt – cũng những ngôn ngữ khác – có những từ được sử dụng với nhiều nghĩa, tôi sợ gây hiểu lầm. Tuy tôi không phải là chuyên gia, nhưng tôi nghe nói là về chính trị học, xã hội học, dân tộc học gì gì đó, người ta phân biệt các khái niệm Nước/ Nhà nước (Etat) và Dân tộc (Nation). Đó là những khái niệm phức tạp khi diễn tả, nhưng tóm tắt có thể hiểu rằng khái niệm Dân tộc bao gồm một tập thể người có chung một ngôn ngữ, một lịch sử, một nền văn hóa, vv., còn khái niệm Nước được hiểu theo nghĩa một lãnh thổ, có biên thùy bao bọc, với dân cư, với một thể chế chính trị, vv. Một thí dụ thường thấy được nêu ra để phân biệt, là trường hợp của Bỉ: một Nuớc với hai Dân tộc – một Etat, hai Nations: Wallon (nói tiếng Pháp) và Flamand (nói tiếng Flamand gần với tiếng Hà Lan). Trong trường hợp nước Việt Nam ta, tuy có hơn 50 “dân tộc” (Ethnies), nhưng dân tộc Kinh là đông trội hơn hết, và theo tôi hiểu thì tới nay, có một sự đồng thuận về một chính quyền tập trung (không phải là một nước liên bang), một ngôn ngữ chính thức là tiếng Việt, và tự coi mình là một Etat-Nation. Không phải như Ấn Độ, một nước “ghép mảnh” (mosaïque), dùng tiếng Anh làm chuyển ngữ. Do đó, tiếng Việt phát triển, là một chất keo gắn liền các công dân trên toàn lãnh thổ lại với nhau, góp phần cho sự thống nhất và cho nền độc lập tự chủ. Điều này nói lên tại sao năm 1945, có một sự hồ hởi phấn chấn, khi tiếng Việt được sử dụng làm chuyển ngữ trong Giáo dục, từ tiểu học, trung học cho đến đại học.

Thuở đó, hầu như đa số nghĩ rằng trong thời kỳ Pháp thuộc, tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ trong các cấp học tương đối cao cấp, là vì chính quyền thuộc địa Pháp muốn đào tạo ra những loại người mà họ sử dụng được trong guồng máy hành chính, kinh tế, kỹ nghệ, nông nghiệp, vv. phục vụ họ, và do đó phần nào giáo dục của Pháp trên đất Việt Nam bị coi như một thứ giáo dục đào tạo nô bộc. Vậy thì ngày nay, nước nhà độc lập, tự mình bỏ tiền ra đào tạo một loại người học đại học bằng một thứ chuyển ngữ hoàn toàn ngoại quốc, có phải là tự mình bày ra một thứ giáo dục đào tạo để làm nô bộc không? Mà loại người được đào tạo kiểu đó liệu có được người nước ngoài kén sử dụng hay không?

Ở đây, không chỉ có niềm tự hào dân tộc. Còn có những lý lẽ khác đáng được để ý.

2/ Tôi nghe đâu đó, có thuyết cho rằng ngôn ngữ không chỉ dùng để trao đổi, mà còn là một công cụ để chuyển tải tư tưởng nữa. Tôi xin kể một câu chuyện kỷ niệm nhỏ để minh họa ý:

Cách đây đã lâu, thời còn chiến tranh chống Mỹ, tôi thường xuyên gặp nhà toán học G., giải Fields; ông G. được nhiều đồng nghiệp coi là một trong những nhà toán học bậc nhất của thế kỉ 20. Thuở ấy, ông G. có “dưới trướng” của ông một nhà toán học, anh S., cũng có tên tuổi. Anh này có mẹ là người Mông Cổ, bố là người Hán, nhà giáo ở Thượng Hải. Anh S. học chút đỉnh ở Trung quốc rồi lén xuất ngoại, sang Pháp, có lúc bị bệnh lao, cũng ở dưỡng đường cùng thời với tôi, nên tôi biết. Anh ta không thông thạo được một thứ tiếng nào cả, tiếng Mông Cổ, chữ Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh đều ú ớ. Ông G. bảo tôi: anh ta có một số kết quả toán học mỹ mãn, nhưng lý luận của anh ta thì rất khó hiểu vì lang thang quanh co, không mạch lạc; ông G. cho rằng ngôn ngữ là dụng cụ cần thiết cho tư tưởng, không có được một ngôn ngữ hoàn chỉnh thì không thể có tư tưởng hoàn chỉnh; và tiếc rằng giá như S. biết thành thạo được một ngôn ngữ thì… Sau khi anh S. bảo vệ luận án tiến sĩ nhà nước, không một trường đại học nào dám tuyển anh ta, vì không ai hiểu anh ta nói gì khi anh ta phát biểu. Sau, họ để anh ta làm Directeur de Recherche ở Trung tâm nghiên cứu khoa học CNRS. (Tất nhiên ở đây, tôi chỉ nói ý kiến của ông G. về ngôn ngữ, chứ tôi không hề mảy may có ý so sánh anh S. và tôi, vì tôi không là cái thá gì cả).

Đề cập đến vấn đề này, tôi muốn nói rằng lý do “để dễ giao tiếp, trao đổi và đón nhận thông tin trực tiếp” nêu ra để chủ trương nên học thẳng tiếng nước ngoài, thì tự nó không đủ sức thuyết phục.

3/ Sẽ có người hỏi vặn, vậy thì Việt kiều ở nước định cư, và du học sinh, du nghiên cứu sinh, ra nước ngoài học tập thì sao? Tôi nghĩ, nên phân biệt hai trường hợp. Trong trường hợp người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài từ nhỏ, được học tập và đào tạo ở nước định cư thì cũng như người sở tại. Họ sẽ được sử dụng, với sự thành công hay thất bại, như những mắt xích trong một dây chuyền của bộ máy của nước sở tại. Phải có một sự cố gắng cá nhân đặc biệt họ mới có thể có những đóng góp với nước gốc của mình; huyết thống không đủ làm cho họ khác với những người ngoại quốc thực sự, trừ sự “gắn bó” về mặt tình cảm nào đó. Trong trường hợp du học sinh, du nghiên cứu sinh, cũng nên phân biệt làm hai. Du học sinh ở tuổi còn nhỏ, thì cũng không khác gì trường hợp nói trên; có chăng là sự khó khăn bị nhân đôi (khó khăn khi phải phù hợp hóa được với văn hóa nước du học, và khó khăn khi phải phù hợp hóa được khi trở về quê nhà – tất nhiên ở đây tôi không nói đến việc hiện nay một số gia đình gửi con đi học sớm nước ngoài vì cho rằng giáo dục trong nước quá lộn xộn; đây là một cách “chạy loạn”, nó không phải là một vế của chiến lược giáo dục đào tạo). Còn du nghiên cứu sinh xuất ngoại ở một tuổi nào đó, đã có sẵn một vốn văn hóa nước nhà, thì tuy có khó khăn lúc đầu phải phù hợp hóa nơi học tập, nhưng khi trở về quê hương thì hòa nhập tương đối dễ dàng hơn. Đấy là nói về việc học tập, giáo dục đào tạo trong khung cảnh để xây dựng quê hương đất nước – (tuy cũng cho bản thân cá nhân có được con đường lập nghiệp).

4/ Thuở tôi còn tại chức, do công việc ở trường, tôi cũng có nhiệm vụ tham gia vào việc liên hệ với những doanh nhân để tìm chỗ thực tập trong doanh nghiệp cho sinh viên. Ngoài những tiêu chuẩn về khả năng khoa học và kỹ thuật mà doanh nghiệp đòi hỏi, các sinh viên còn phải viết tay một lá thư bày tỏ lý do của mình (lettre de motivation), đó là “bước đầu” họ bị/được đánh giá về trình độ văn hóa của mình. Tôi cũng nghe nói là một số doanh nghiệp, khi mở chi nhánh ở nước ngoài, thường muốn kén những cán bộ trung cao có một sự hiểu biết, không những về ngôn ngữ của nước đó, mà còn có sự hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán của nước đó nữa.

Tăng cường việc học tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Mỹ, vì đó là một sinh ngữ thông dụng trên thế giới hiện nay, thì chắc ai ai cũng đồng ý. Trong quá trình học tập, có những tiết học chuyên môn bằng tiếng nước ngoài, chắc đông người cũng đồng ý. Nhưng nay tại nước nhà, đào tạo chính người nước mình, để phát triển đất nước mình, mà lại hoàn toàn dùng tiếng nước ngoài, có lợi mặt nào nhưng cũng có hại mặt nào hay không ?

Tóm lại, vì những lý do nêu trên, trong lòng tôi nặng trĩu mối băn khoăn. Trong bài này, tôi nêu câu hỏi nhiều hơn là mang lại những lời khẳng định. Tất nhiên, tôi không chia sẻ lời bực dọc của một vài người quá khích (bất mãn về việc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam này): mấy người quá khích đó bảo rằng, nếu độc lập tự chủ không còn là mối quan tâm chính nữa, thì sao không xin nhập quách làm một bang của Mỹ, hay một tỉnh của Trung quốc, vụt một bước trở thành thành phần của một cường quốc hoành tráng, có vũ khí hạt nhân, có tàu vũ trụ, có giải thưởng Nobel, có những đại học top 1, top 10, có xe hơi xịn, có máy bay cá nhân, có thể thành tỉ phú hàng đầu thế giới, vv., khỏi phải lo bàn cãi chiến lược này chiến lược nọ cho giáo dục đào tạo, khỏi lo đến năm này năm nọ sẽ thành Rồng, thành Cọp. Nhưng câu hỏi vẫn còn đó. “Nam quốc sơn hà…”?

Tôi không mong gì hơn là được các cao thủ trong lĩnh vực lý luận, giải tỏa cho mối băn khoăn của tôi. Tôi trân trọng cảm ơn.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.