Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005: Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ lúa lai ở Việt Nam
Cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất trong ngành trồng lúa được đánh dấu bằng sự ra đời của giống lúa nửa lùn IR 8 cho năng suất cao từ 8 đến 10 tấn/ha vào những năm 70 của thế kỷ trước, thay thế cho những giống lúa truyền thống cao cây, năng suất thấp. Nhờ đó, một số nước đã thoát khỏi nạn thiếu lương thực triền miên. Song suốt 30 năm sau đấy, tiềm năng, năng suất lúa thường không tăng thêm, trong khi dân số thế giới tăng liên tục dẫn tới đe dọa an ninh lương thực ở một số nước trong đó có Trung Quốc. Chính vì vậy, Trung Quốc là nước thành công đầu tiên trong việc tạo ra giống lúa lai và đưa lúa lai vào sản xuất đại trà. Trong vòng 20 năm (1976 - 1995), Trung Quốc gieo trồng 650 triệu ha lúa, trong đó có 190 - 200 triệu ha lúa lai, năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần 2,02 tấn/ ha. Nhờ đó sản lượng lương thực tăng từ 19 đến 20 triệu tấn/ năm. Ðiều này đã giúp Trung Quốc giải quyết thành công an ninh lương thực cho 1,3 tỷ người.
Nghiên cứu thành công giống lúa lai của Trung Quốc được nhiều nước ngưỡng mộ và muốn phát triển lúa lai. Mỹ đã phải mua công nghệ lúa lai của Trung Quốc, Ấn Ðộ, Philippines, Indonesia... đều đặt ra chương trình phát triển lúa lai. Nhưng sau Trung Quốc, Việt Nam được đánh giá là nước thành công nhất về nghiên cứu và phát triển lúa lai. Việt Nam bắt đầu sản xuất thử lúa lai từ năm 1992 và đến năm 2003 diện tích lúa lai đã đạt 600 nghìn ha, đạt năng suất trung bình 6,3 tấn/ha, cao hơn năng suất lúa thuần là 1,81 tấn/ha. Lúa lai đã góp phần tăng thêm sản lượng lúa một triệu tấn/năm, giải quyết được tình trạng thiếu lương thực ở các tỉnh phía bắc. Ðể khuyến cáo phát triển lúa lai, tổ chức FAO và IRRI đã tổ chức hai hội nghị quốc tế về lúa lai tại Việt Nam và tổ chức cho nhiều đoàn quốc tế đến khảo sát, nghiên cứu để nhân rộng mô hình "lúa lai ngoài Trung Quốc" như ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu công nghệ lúa lai và chọn tạo giống lúa lai đã được công bố ở nhiều hội nghị quốc tế và trong nước, được các nhà khoa học trong khu vực và thế giới đánh giá cao và được nông dân hoan nghênh áp dụng trên diện rộng. Công trình nghiên cứu khoa học về lúa lai vô cùng phức tạp, nhưng tập thể tác giả công trình đã giải quyết thành công những vấn đề: Công nghệ sản xuất hạt lai F1 và tổ chức sản xuất hạt trong điều kiện hợp tác xã và ở các công ty giống; kỹ thuật giữ thuần và nhân dòng bố mẹ; thu thập nhập nội, đánh giá các tổ hợp lai, vật liệu phục vụ cho chọn giống lúa lai; nghiên cứu cơ bản phục vụ cho chọn tạo giống bố mẹ và chọn tạo tổ hợp lai nội địa; chọn tạo một số tổ hợp lai nội địa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống TBKT và giống quốc gia; đưa lúa lai vào sản xuất đại trà, góp phần giải quyết tăng sản lượng lương thực. Hội đồng Giải thưởng quốc gia đánh giá: Công trình nghiên cứu Ứng dụng và phát triển công nghệ lúa lai ở Việt Nam đã xây dựng được công nghệ sản xuất hạt lai F1 và tạo được kỹ thuật làm thuần giống bố mẹ để cải tạo các tư liệu nhập nội thành các tổ hợp lai Việt Nam. Nhờ hai công nghệ kỹ thuật nói trên, Việt Nam có thể tự túc hạt lai khoảng 25% hiện nay và tiến tới tự túc 100% hạt lai F1 khoảng 10 năm tới. Thành công của công trình làm tăng được khoảng một triệu tấn thóc/năm, góp phần bảo đảm an ninh lương thực để chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa.
Nguồn: nhandan.com.vn 19/1/2006







