Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 19/06/2008 22:18 (GMT+7)

Gia Định thành thời tả quân Lê Văn Duyệt

Thủ phủ của Gia Định thành bấy giờ là thành Phan An (Sài Gòn). Thành được Nguyễn Ánh xây dựng vào năm 1790 sau khi chiếm được Gia Định, kiến trúc thành được xây theo kiểu Tây phương: hình vuông, chu vi trên ba hải lý; tường xây bằng đá ong Biên Hòa, cao năm thước hai mươi phân. Ở giữa thành là Cung điện của Nguyễn Vương (ở vị trí Vương Cung Thánh đường hiện nay). Bên cạnh cung điện, phía bên trái là dinh Đông Cung, phía phải là xưởng đóng chiến thuyền và đúc đại bác. Phía sau cung điện là kho vũ khí và lương thực. Thành có tám cửa: phía đông là Gia Định Môn và Phan An Môn; Phía tây là Vọng Khuyết Môn và Công Thìn Môn; phía bắc là Hoài Lai Môn và Phúc Viễn Môn; phía nam là Định Biên Môn và Tuyên Hóa Môn. Xung quanh bao bọc thành là phố xá và nhà cửa.

Một thương gia người Trung Quốc tên là Finlayson, ghé qua Sài Gòn năm 1812 đã tả lại thành phố như sau: “Tuy không còn là kinh đô nữa nhưng thành phố này vẫn làm cho du khách phải ngạc nhiên: chúng tôi không ngờ ở miền xa xôi này lại có một thị tứ to và rộng như vậy. Thành phố ở bên trái sông Sài Gòn (đi từ cửa biển vào). Khi chúng tôi xuống bến, đi hàng mấy hải lý mà chưa hết nhà cửa. Nhà làm đều sát nhau và theo hàng rất đều. Đường sá rất rộng. Có rất nhiều lạch, hai bền bờ đều là nhà cả, thuyền bè đi lại như mắc cửi. Cách đặt phố xá ở đây còn phong quang, thứ tự hơn nhiều kinh đô Âu châu.

Thành phố Sài Gòn là trung tâm thương mại của cái tỉnh giàu có này. Một vài người Trung Hoa ở nước họ sang đây buôn bán rất lớn, nhưng người “Cochinchinois” nghèo cho nên không sao buôn bán như người Trung Hoa được. Những cửa hiệu ở Sài Gòn có đủ mặt hàng: đồ sứ Trung Hoa rất đẹp, đồ sứ bản xứ xấu hơn, lụa xứ Toquin (Bắc Việt), quạt, thuốc, pháo, hương, giấy… Tóm lại rất nhiều hàng hóa Trung Hoa… Dân cư rất đông đúc.

Sự phát triển của thành phố này và của một thành phố bên cạnh (Chợ Lớn) đã tiến một bước khá mạnh với chính sự thanh liêm nhưng cực kỳ nghiêm khắc của ông Khâm sai Tả quân Lê Văn Duyệt…” (theo L’Empire d’Annamcủa Jean Silvestre – trích lại từ cuốn Cuộc đời oanh liệt… Lê Văn Duyệt… của Lê Đình chân, tr. 60).

Tác giả Trịnh Hoài Đức đã ghi chép về đất đai và con người Sài Gòn vào những năm giữa thế kỷ XIX như sau: “Đất Gia Định rộng lớn, phì nhiêu, sản xuất đủ mọi sản phẩm, dân cư phong phú, không bao giờ lầm vào cảnh thiếu ăn, thiếu mặc. Người Gia Định quen ăn tiêu phung phí, trong miền Gia Định, rất ít người giàu có, vì cớ không ai chịu dành dụm để làm giàu cả. Nhân dân ở đây khinh rẻ tiền của, nhưng rất mộ công lý. Đàn bà thì yểu điệu và phần nhiều có nhan sắc. Từ Bắc chí Nam , họ có tiếng là đẹp hơn cả. Họ phần nhiều thọ hơn đàn ông. Những người đã cao tuổi thường vẫn tráng kiện, chứ không cằn cỗi khô khan (…).

Khi cõi Gia Định mới thuộc về triều đình nước Nam, thì nhân dân miền này gồm có những người An Nam miền Trung di cư vào, người Trung Hoa, người Mã Lai, thường gọi là Chà Và. Phong tục các giống đều khác nhau. Người An Nam theo phong tục Giao Chỉ (…).

“Học trò và thường dân, đàn ông cũng như đàn bà để tóc xõa xuống vai, mặc áo cánh ngắn, không có xẻ ở hai bên, khuy ở giữa. Ở xứ này người ta không biết đến quần: đàn ông thì dùng một miếng vải quấn qua lưng và vắt qua mông (khố). Đàn bà thì dùng một miếng vải quấn chung quanh sườn. Nhà cửa đều thấp và nhỏ. Nhưng từ năm 1680 (đời Lê Ai Tôn) trở đi, người ta ăn mặc theo kiểu Minh Triều (…)”.

“Người Gia Định rất thuần hậu với khách lạ. Khi có người lạ tới nhà, chủ nhà bao giờ cũng mời ăn trầu, uống trà và sau cùng là dùng cơm. Mà bữa cơm đãi khách bao giờ cũng thịnh soan, bất luận là khách thân hay sơ hay chỉ là một người lạ mặt (…)”.

Xứ này có nhiều sông lạch, vì thế nên trong 10 người thì có 9 người biết bơi. Thủy quân Gia Định có tiếng là thiện chiến.

Nhà ở Gia Định, phần lớn lợp ngói. Ở bến Sài Gòn, tàu thuyền thương mại ra vào tấp nập. Không một thương cảng nào trong nước có thể so sánh nổi với Gia Định. Dân Gia Định vì thế rất thạo nghề buôn bán…”.

Trái hẳn với dân Gia Định, người miền Vĩnh Thanh (Vĩnh Long và An Giang) có tính cần kiệm. Họ cần cù làm ăn: cấy lúa và trồng hoa quả. Nhân dân miền này phong tục cực kỳ thuần hậu. Ai ai cũng có ruộng, có vườn. Không ai là nghèo khó thiếu ăn thiếu mặc…”.

(Theo Gia Định thành thông chí– trích lại từ Cuộc đời oanh liệt của Tả Quân Lê Văn Duyệt, sđd, tr. 63).

Năm 1812, vua Gia Long cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành.

Thời gian trước khi Lê Văn Duyệt vào làm Tổng trấn, ở miền Vĩnh Thanh, sau thời gian dài loạn lạc, có nhiều vùng bọn cướp kết thành băng đảng, hoành hành rất dữ. Chúng ngang nhiên cướp giựt, đốt nhà, hãm hại lương dân. Dựa vào sông lạch để hoạt động, các băng đảng này thường bắt người có tiền của rồi đòi tiền chuộc, vì thế có nơi dân làng phải bỏ nhà cửa để trốn vào các chợ lập quanh các thành trì có quan quân canh phòng. Trước tình cảnh đó, khi đến nhậm chức, Lê Văn Duyệt đã tốn rất nhiều công sức, dùng nhiều biện pháp mới dẹp yên được các băng cướp này. Ông thường nói với các quan quân rằng: “Muốn trừ bọn cướp không gì bằng nuôi dân… Muốn nuôi dân không gì bằng cho dân ruộng đất để cày cấy…”. Năm 1820, ông cho lập một đồn điền để những người tha phương cầu thực, những kẻ trộm cướp ra đầu thú có nơi lao động sinh nhai; hoặc cấp lương thực, trâu bò, nông cụ để họ đi khai khẩn đất hoang, tự do canh tác để thu lợi. Đất đai khai khẩn đó, mười năm sau mới phải đóng thuế.

Để khuyến khích nhân dân Gia Định gia tăng canh tác nông nghiệp, hàng năm ông cho tổ chức lễ Tịch điền vào tháng năm hàng năm. Tại đó, Lê Văn Duyệt thay mặt nhà vua đích thân cày một thửa ruộng nhỏ. (Theo Trương Vĩnh Ký, thửa ruộng đó sau này là khu vực trước “Dưỡng Đường người già” – khu vực Thị Nghè hiện nay).

Trong thời gian làm Tổng trấn, Lê Văn Duyệt đã dâng sớ lên triều đình Huế để xin đào kênh Vĩnh Tế. Truyền đình cử Thoại Ngọc Hầu, Trấn thủ Vĩnh Long và An Giang là người đứng ra chỉ huy thực hiện công trình “vĩ đại” này. Năm 1823, Lê Văn Duyệt lại cho huy động nhân công đào vét thêm cho sâu rộng hơn để tàu lớn có thể ra vào được dễ dàng.

Kênh Vĩnh Tế thực hiện dưới thời Lê Văn Duyệt là một công trình mang lại rất nhiều lợi ích. Không chỉ thuận tiện cho việc giao thông đi lại và tưới tiêu đồng ruộng, mà còn tạo nên một địa thế chiến lược hết sức quan trọng trong việc bảo vệ lãnh thổ phía Nam thời bấy giờ. Sách Đại Nam Nhất thống chí chép: “Từ ấy đường sông lưu thông, từ kế hoạch trong nước, phòng giữ ngoài biên, cho tới nhân dân buôn bán, đều được tiện lợi vô cùng…”.

Trong hai lần trấn nhậm ở Nam bộ, Lê Văn Duyệt đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo tài ba, ông nghiêm khắc trong việc thực thi luật pháp để xây dựng một vùng Nam bộ ổn định và no ấm. Dưới thời ông làm Tổng trấn, “nhân dân Gia Định thành được yên ổn làm ăn. Lúa gạo sản xuất nhiều, nhân dân không biết đói kém là gì…”) (Theo Cuộc đời oanh liệt…”, tr. 79).

Trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002, ghi ông là một “danh tướng công thần bậc nhất của triều Nguyễn, là “nhà chính trị xuất sắc” và là “một người cương trực, ghét xu nịnh”. Sách Đại Nam Nhất thống chícủa Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Duyệt là người thâm trầm, dữ tợn, chiến đấu giỏi”.

Lê Văn Duyệt là người đã góp công lớn về đối nội lẫn đối ngoại. Không chỉ giữ vững bờ cõi phía Nam mà còn phát huy thế nước nhà ra các nước lân bang, khôn khéo ứng xử với giới doanh nhân phương Tây đến buôn bán. Đồng thời đốc thúc quân dân nỗ lực khẩn hoang, lập ấp, đắp đường, xây lũy, học văn luyện võ, tăng gia sản xuất, mở rộng giao thương… Ông được nhân dân kính trọng và gọi là Thượng công.

Đến năm Nhâm Thìn (1823), vua Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành, các địa phương đều được đổi thành tỉnh. Nhưng đối với Gia Định thành, vua vẫn để cho Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn. Điều đó chứng tỏ nhà vua rất tin tưởng vào năng lực lãnh đạo của ông.

Lê Văn Duyệt mất ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832), thọ 69 tuổi. Rất nhiều người thân cận với ông nói rằng, cho đến lúc sắp tắt hơi, tinh thần ông cũng không đổi, vẫn minh mẫn như thường…

________

Sách tham khảo:

1) Đại Nam Nhất thống chí.

2) Lê Đình Chân, Cuộc đời oanh liệt của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Nxb Phổ Thông Sài Gòn, 1956.

3) Từ điển bách khoa Việt Nam , Tập 2.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hải Phòng: Sáp nhập Hội Làm vườn và Hội Kế hoạch hóa gia đình về Liên hiệp hội Thành phố
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Quyết định số 3494/QĐ-UBND ngày 29/8/2026 về việc cho phép sáp nhập Hội Làm vườn thành phố Hải Phòng và Hội Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hải Phòng vào Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng.
Thanh Hoá: Tập huấn công nghệ số và ứng dụng số trong sản xuất và đời sống
Ngày 08/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội tỉnh) đã phối hợp với Hội Tin học Thanh Hóa và Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Hội nghị tập huấn với chủ đề “Công nghệ số và ứng dụng số cho công dân xuất sắc và tiêu biểu trong lao động và sản xuất trên địa bàn tỉnh”.
Tuyên Quang: Tổng kết dự án bảo tồn, phát huy giá trị di sản chè Shan tuyết
Ngày 04/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ Môi trường Toàn cầu (UNDP/GEF SGP) tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát huy giá trị quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế tỉnh Tuyên Quang”.
Kỷ niệm 20 năm thành lập Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ
Sáng 6/9 tại Hà Nội, Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ (CTCS) thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập. Tại sự kiện, công trình “Almanach Những nền văn minh thế giới” do Trung tâm thực hiện đã chính thức nhận Bằng xác lập Kỷ lục Việt Nam cho công trình “Almanach những nền văn minh thế giới”.
Khởi động Dự án “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế - giai đoạn 2”
Ngày 25/8/2026, tại UBND phường Phong Điền, thành phố Huế, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (Trung tâm SRD) phối hợp với UBND phường Phong Điền tổ chức buổi họp khởi động Dự án VM083 “Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng tại thành phố Huế – giai đoạn 2”.