Đừng vội!
Nhờ công nghệ vi sinh?
Cuối tháng 6 vừa qua, ông Nate Torch, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Censea (Mỹ) - chuyên phân phối thủy sản cho các nhà hàng, siêu thị... lại đến tham quan nhà máy chế biến tôm theo tiêu chuẩn “sạch” của Công ty cổ phần Thủy hải sản Minh Phú (Cà Mau). Tỏ vẻ hài lòng với những gì chứng kiến, ông Nate Torch quyết định nán lại thêm một ngày để đi thăm vùng nuôi tôm của Minh Phú tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Đây là mô hình nuôi tôm công nghiệp mà theo ông Lê Văn Quang, Tổng giám đốc Minh Phú: “Đang thử nghiệm việc áp dụng công nghệ vi sinh”. Kết thúc chuyến tham quan, ông Nate Torch khẳng định: “Tôi tin rằng sản phẩm của Minh Phú vào thị trường Mỹ sẽ ngày một tăng”.
Theo ông Quang, nuôi tôm theo công nghệ vi sinh là điều khá mới mẻ. Trước tiên, một loại men vi sinh tổng hợp sẽ được cấy vào phân bùn và bã mía nhằm tạo ra vi khuẩn, sau đó thả xuống vuông tôm. Đây cũng là môi trường để tảo phát triển. Vi khuẩn sẽ xử lý thức ăn thừa, chất thải của tôm, còn tảo sẽ “xử lý” xác vi khuẩn.Chutrình được khép kín khi chính một loại động vật thủy sinh sẽ lấy tảo làm thức ăn và con tôm sẽ sử dụng ngay chính loại động vật thủy sinh ấy để làm mồi. Như vậy, quá trình nuôi tôm được bảo đảm vệ sinh môi trường lâu dài, không ảnh hưởng đến tôm nuôi trong nhiều vụ liền kề...
Trước đó, hồi năm 2003, Công ty cổ phần Nuôi trồng và Chế biến thủy sản Mỏ Ó (SEACO) đã lập kỷ lục về nuôi tôm công nghiệp tại Sóc Trăng với năng suất bình quân trên 14 tấn/héc ta. Năm kế tiếp, tại một số vuông tôm của SEACO, năng suất được nâng lên 20 tấn/héc ta. Theo ông Lưu Quốc Việt, Giám đốc SEACO, thành công trên chính nhờ quy trình nuôi tôm sạch cao sản bằng công nghệ vi sinh VITEDI. Hồi chưa áp dụng quy trình này, năng suất tôm nuôi của SEACO chỉ đạt trên bốn tấn/héc ta...
Hiện nay, nông dân vùng ĐBSCL đang được khá nhiều công ty chào mời nhiều loại chế phẩm sinh học khác nhau nhằm áp dụng công nghệ vi sinh vào nuôi tôm.
Theo tài liệu của một công ty cung cấp chế phẩm sinh học ở TPHCM, nhiều chất thải tích tụ dưới đáy vuông tôm chính là nguồn gây nguy hại cho tôm. Lớp bùn ấy rất độc, thiếu ô xy nhưng lại chứa nhiều chất độc như nitrite, hydrogen sulfide... dễ dẫn đến chuyện tôm nuôi chết hàng loạt. Và nếu áp dụng công nghệ vi sinh, chuyện xử lý bùn “độc” dưới đáy vuông tôm không còn là nan giải.
Gần đây, Bộ Thủy sản cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh trong quá trình nuôi tôm và đang xem xét để khuyến khích nhân rộng.
Cái nhìn khách quan
Trước những thông tin khá lạc quan về công nghệ vi sinh, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Trưởng khoa Thủy sản (Đại học Cần Thơ), cho biết: “Đúng là vi khuẩn được hình thành từ men vi sinh có tác dụng phân hủy vôi, phù sa, thức ăn thừa... của tôm. Nhưng áp dụng rộng rãi được hay không vẫn còn nhiều chuyện cần bàn!”.
Theo ông, hiện có khá nhiều loại men vi sinh có mặt trên thị trường và xuất xứ từ các quốc gia khác nhau... Do vậy, đặc tính cũng có thể khác nhau và điều cần đề cập trước tiên là điều kiện bảo quản. “Trong điều kiện nóng quá hoặc lạnh quá... vi sinh cũng có thể bị triệt tiêu, không phát huy tác dụng. Và có thể một nông dân nuôi thành công, nhưng một nông dân khác mua cùng lô hàng vi sinh ấy nhưng trong ngày khác... lại thất bại”, ông phân tích.
Trong vuông tôm, để phát triển thì vi khuẩn phải bám được vào một thứ gì đó... nếu không, men vi sinh được cho vào cũng như muối bỏ biển. Ông Phương dẫn chứng, những chiếc sa quạt tạo ôxy cho tôm cũng có thể khiến vi khuẩn không chìm được xuống đáy vuông để phát huy tính năng. Về việc cấy men vào bã mía, phân bùn... và thả xuống đáy ao như một số thử nghiệm đã thành công, một số chuyên gia thủy sản “đặt ngược” vấn đề: không loại trừ trong bã mía... có cả những chất độc hại cho tôm.
Như vậy, để nông dân áp dụng đại trà kỹ thuật nuôi này là điều không đơn giản bởi muốn giải đáp những “nghi vấn” trên cần có kinh phí, kỹ thuật, máy móc kiểm tra và cả kinh nghiệm...
Còn ông Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, phân tích ngay từ nguyên nhân gây ô nhiễm, khiến tôm bệnh, chậm lớn: “Chính là do việc nuôi thâm canh”. Để “trị” được ô nhiễm, ngoài đầu tư cho thủy lợi phục vụ thủy sản, theo ông, cách tốt nhất là nên nuôi một vụ ăn chắc còn hơn hai vụ mà bấp bênh, đồng thời nên nuôi theo mô hình quảng canh cải tiến đang chứng minh tính ổn định.
Tại Thái Lan, nhiều diện tích nuôi tôm cũng được áp dụng công nghệ vi sinh, nhưng theo một số chuyên gia thủy sản, phần lớn có lẽ là do “áp lực” về tâm lý hơn là hiệu quả dễ thấy. Giả như, cùng áp dụng công nghệ vi sinh nhưng hộ thất bại lại luôn nghĩ rằng do mình làm không đúng kỹ thuật. Trong lúc đó, một hộ khác không áp dụng và thất bại thì cũng đổ là do mình chưa... áp dụng. Dường như chưa có một cái nhìn tỉnh táo để phân tích hiệu quả thực sự và chính xác của công nghệ vi sinh trước tần suất quảng bá khá lớn và người nuôi tôm đang rất cần “cái phao” trước cơn “bão” dịch bệnh, ô nhiễm.
Bây giờ, phía lúng túng nhất có lẽ là người nông dân bởi công nghệ vi sinh hình như vẫn có điều gì đó mơ hồ, tựa như những người làm vườn đứng trước hàng loạt các nhãn hiệu thuốc tăng trưởng cây, bón lá... mà không biết hiệu quả thực sự tới đâu! Trong khi đó, tham khảo thử giá một loại men vi sinh mà một công ty ở TPHCM chào bán, đã thấy nông dân trước mắt phải bỏ ra mỗi vụ khoảng tám triệu đồng cho một héc ta mặt nước.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn6/7/2006







