Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/03/2006 22:48 (GMT+7)

Dự án cảng nước trong của người Pháp cho Hải Phòng

Trước hết cần biết rằng Hải Phòng không được các quan chức Pháp chọn làm cảng của Bắc Kỳ. Buổi đầu nó là một cảng tự phát do sự đổ xô người châu Âu tới đây, nơi vốn tập trung thuyền sông và thuyền ven biển. Bonnal, công sứ đầu tiên của Hải Phòng, viết trong nhật ký của mình: “Các kỹ sư thuỷ văn và sĩ quan hải quân không nhất trí được với nhau trong việc chọn cảng mới thay thế cho Hải Phòng. Một số ca ngợi Quảng Yên, số khác ca ngợi Hòn Gay trong Vịnh Hạ Long, nhưng tất cả nhất trí yêu cầu chính phủ Pháp bỏ Hải Phòng vì không có lối vào cho tàu có trọng tải lớn, được xây dựng trên bùn nên không thể nối với Hà Nội bằng đường sắt, bị các dòng chảy rộng và xiết cắt ngang cắt dọc tạo ra ngập lụt và sự kém ổn định của nền đất châu thổ sẽ làm cho công tác xây dựng tốn kém tới mức tất cả tài nguyên của Bộ Thuộc địa bị hút vào đây. Mặc dù có những công kích mạnh mẽ chống lại cảng và tỉnh thành Hải Phòng, người Pháp ở đây vẫn không mảy may bận tâm, tiếp tục mở rộng các cơ sở kinh doanh vì họ biết rằng nếu sau này có cảng nước sâu ở Quảng Yên hay Hòn Gay thì Hải Phòng vẫn mãi mãi là cảng của dân bản xứ ở châu thổ và của người Tàu lui tới” (Au Tonkin 1872 - 1881 - 1886).

Sự tự phát này lại được thúc đẩy bởi sáng kiến cá nhân của Bonnal như mua lại đất của dân bản xứ, liên hệ với các quan An Nam thực hiện tiếp chế độ phu dịch không thực hiện được trong những năm trước đó để san lấp, đào sông… Kết quả là người Pháp đã có được một cảng ở Bắc Kỳ luôn luôn phải đối mặt với nguy cơ bị bồi lấp.

Ngoài việc phải nạo vét thường xuyên, người Pháp nghĩ tới việc giải quyết một cách căn bản là làm trong cảng Hải Phòng. Họ nhận thấy sở dĩ cảng Hải Phòng bị phù sa bồi lắng là do sông Kinh Thày (chảy qua cảng Hải Phòng) ngoài việc nhận nước trong quanh năm của sông Thương (thực ra là hợp lưu của ba sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam hợp lại ở phía trên Phả Lại (Sept - Pagodes) còn nhận một phần nước phù sa của sông Đuống (Canal des rapides) chuyển sang (xem bản đồ). Như vậy, nếu chặn không cho sông Đuống đổ vào sông Kinh Thày, đồng thời rẽ nước trong của sông Thương vào sông Kinh Thày thì có thể làm cho cảng Hải Phòng trở thành cảng nước trong.

Ngày 15/12/1941, Toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux phê duyệt dự án cảng nước trong Hải Phòng. Theo dự án, người ta đào một con sông ở giữa làng Đáp Khê và các làng Lý Dương và Tu Linh thuộc huyện Chí Linh để lái sông Thương chảy trực tiếp vào sông Kinh Thày. Con sông đào này ngày nay còn thấy trên bản đồ hiện hành cũng như trên thực địa giữa xã Nhân Huệ và Cổ Thành huyện Chí Linh, Hải Dương. Đồng thời với việc đào sông, người ta đắp hai con đập. Đập thứ nhất trên sông Thương để khống chế nước trong của sông Thương đổ vào sông Thái Bình. Đập thứ hai trên sông Kinh Thày chỗ ngang làng Lanh Xá, huyện Nam Sách nhằm ngăn nước sông Đuống đổ vào sông Kinh Thày qua sông Thái Bình.

Dưới đây là các thông số kỹ thuật chính của con sông đào này:

Sông chảy giữa hai con đê theo một cung tròn bán kính 2300m. Trước khi vào và sau khi ra khỏi lòng sông đào, dòng nước phải chảy trên hai con sông được đào sâu thêm trên một đoạn nào đó. Với độ nghiêng đều đặn là 10cm cho mỗi kimômét, lòng sông đào từ cốt -3,00 ở thượng lưu sẽ đổ vào sông Kinh Thày ở ngang làng Linh Giang. Tiết diện sông có đáy rộng 250m và độ nghiêng của taluy là 2/1. Đất đào lên được đổ ở bên trái cách bờ 60m tạo thành một con đê rộng 200m ở đáy và chiều cao trung bình 5m của nó cho phép cao hơn mặt nước mùa lũ từ 1,2 tới 1,3m.

Phần thực hiện dự án, chúng tôi xin lược dịch bài đăng trên tuần báo Indochine Illustrésố 181 ngày 17-2-1944:

Việc tổ chức các công trường.

Do khoảng cách từ nơi đào đất tới nơi đổ đất khá xa, trung bình từ 250 tới 300m nên cần phải có các thiết bị cơ giới. Cuộc vận động cho mục đích này ở các Ty Công chính và Toà Thị chính trên toàn Đông Dương đã cho phép tập trung về công trường một số lượng lớn thiết bị của Hãng Decauville gồm 8 đầu máy xe lửa, nhiều chục toa xe nhỏ và khoảng ba chục kilômet đường ray khổ 0,6m. Dọc theo sông Thái Bình, từng quãng một, người ta bố trí các bến bãi. Từ các bến bãi này có các đường sắt nối với khu hậu cần gồm các xưởng, cửa hàng, nhà ở… xây dựng gần công trường.

Trên công trường, người ta áp dụng đồng thời hai phương pháp đào và chuyển đất: phương pháp thô sơ sử dụng nguồn nhân công dồi dào ở đồng bằng để đào bằng tay phần đất từ bề mặt tới nửa độ sâu của sông và phương pháp dùng máy xúc để đào phần dưới, phần này, công nhân dùng tay không thể làm được vì bị úng nước.

Tổng thể tích đất đào là hơn ba triệu mét khối.

Đặc điểm của các công trường

Tiến độ của công trình

a. Công trường của nhà thầu Ngô Thế Loan: Kế hoạch vận chuyển của nhà thầu này được thực hiện bằng thuyền tam bản ở trong thùng đấu, sau đó dùng thúng ở những nơi tương đối gần chỗ đổ đất, sau cùng dùng xe goòng đẩy tay để đưa đất vào khu xa nhất là khu trung tâm. Kế hoạch này đã được thực hiện với sự độc đáo là khối lượng vận chuyển bằng tay đã vượt khối lượng quy định mà hai phương pháp kia không đạt được.

Công việc được tiến hành với 3500 thợ đấu có mặt hàng ngày trên công trường. Được cung cấp thực phẩm tốt, cuộc sống đảm bảo, họ đã hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn.

b. Công trường trang bị cơ giới. Việc đào, bốc và đổ đất vào chỗ quy định được tiến hành theo kiểu khoán. Chính quyền dành quyền tổ chức và điềuhành công trường cũng như vận chuyển đất bằng các đoàn xe goòng do đầu máy kéo. Có hai công trưởng khép kín kiểu này, mỗi công trường gồm bốn dây chuyền chuyển cũng như bốn địa điểm đổ đất. Mỗi dâychuyền dài hơn 6500 mét đường sắt với khoảng ba chục đường nhánh và được nối với các chi khu và bến bãi của sông Thái Bình.

Những kết quả thu được cực kỳ khích lệ: trong khoảng thời gian ngắn trên, với số lao động có mặt trên công trường hàng ngày khoảng 450 người và những đoàn xe goòng 20 chiếc một, mỗi xe từ 850 tới 1000 lít, người ta đã đào và chuyển đi 180.000m 3đất mà không xảy ra một tai nạn nào.

c. Công trường dùng tàu cuốc và phun bùn. Kế hoạch do Công ty Tàu Cuốc (Société des Dragages) đưa ra không kém phần độc đáo. Kế hoạch này dùng một tàu cuốc cuốc bùn rót sang các xà lan để sau đó được phun ra phía sau khu vực đổ đất bằng tay.

Tàu cuốc là một nhà máy công suất lớn có thể dễ dàng cuốc và chuyển đi 100.000m3 đất mỗi tháng. Nó thực sự là một nhà máy nổi được cung cấp điện nhờ một đường dây nhiều kilômét nối với lưới điện của đồng bằng. Liên lạc giữa tàu cuốc và tàu phun bùn được bảo đảm bằng bốn xà lan loại 100m 3do tàu kéo 80CV kéo.

Sơ kết khối lượng công việc đã thực hiện

Khi mùa mưa tới, các công trường, đặc biệt là công trường sử dụng thiết bị cơ giới, sẽ phải ngưng hoạt động, nhưng nhà thầu đã đào và chuyển đi được 900.0000m 3đất. Về phía công trường do nhà nước điều hành, công trường này trong một thời gian ngắn đã thực hiện được hơn một nửa kế hoạch, tức là khoảng 180.000m 3đất.

Nếu thêm vào hai khối lượng trên 380.000m 3đất thực hiện trong cùng thời gian, để san lấp và xây dựng các con đê mới và sửa lại các con đê bên cạnh và các công trình liên quan tới việc mở nhánh sông mới thì tổng thể tích đào đắp trong một năm lên tới 1.500.000m 3.

Kế hoạch năm 1944

Từ nay tới cuối năm, chiến dịch chuyển dòng sông Thương gồm có các công việc sau:

+ Hoàn thành việc đào từ mặt tới nửa độ sâu của đoạn thượng lưu. Công việc này đòi hỏi phải đào 170.000m 3đất trong thời gian khô ráo để sau đó nhường lại cho tầu cuốc lúc này đang bắt đầu cuốc ở hạ lưu.

+ Tàu cuốc sẽ cuốc một khối lượng lớn đất khoảng 1.000.000m 3để mở một kênh nhỏ cho tàu bè lưu thông giữa hai sông với nhau, nhờ đó có thể tiến hành xây dựng đập trên sông Kinh Thày trước khi hoàn thành nhánh sông mới.

Ngoài hai công việc đã được hoạch định trên còn có những công việc sau:

Một mặt hàn nối các bãi đổ đất ven sông đào với đê của các sông lân cận để tránh ngập lụt cho Phả Lại. Công việc này đòi hỏi phải san lấp 160.000m 3.

Mặt khác phải tiến hành đắp một con đập bằng đất trên sông Kinh Thày. Công việc này sẽ tiến hành sau cơn lũ tới.

Tóm lại, công việc rẽ các sông nước trong khỏi lưu vực sông Thái Bình, một công trình chủ yếu trong chương trình cải thiện đường vào cảng của Bắc Kỳ, ngay từ bây giờ đã bước vào giai đoạn rất khẩn trương. Như vậy chúng ta có thể tin chắc rằng nhánh sông mới sẽ được mở đúng thời hạn, tức là mùa lũ năm 1945”.

Xin bạn đọc lưu ý là công trình trên đã được thực hiện trong thời kỳ chính quyền Đông Dương gặp rất nhiều khó khăn: do Chiến tranh Thế giới đã bùng nổ, bị cắt đứt với chính quốc, mọi thứ đều thiếu thốn, đặc biệt là xăng dầu, đã có lúc chính quyền Pháp phải cho đóng những thuyền đinh 150 tấn để chuyển than từ Hòn Gay vào Vinh.

Tới đây, chúng ta có thể tự hỏi vì sao một công trình to lớn và có tác dụng như vậy và gần như thành hiện thực lại không có một tiếng vang nào ở nước ta. Có còn chăng chỉ là một vành cung nho nhỏ vô nghĩa trên bản đồ huyện Chí Linh.

Theo chúng tôi, có thể là những chính biến năm 1945, đặc biệt là nạn đói, đã làm công trình không hoàn thành và công cuộc kháng chiến chống Pháp sau đó đã làm người ta quên công trình. Về phía người Pháp, có thể họ không thích nhắc tới tên tuổi vị đô đốc theo chính quyền Pétain và hợp tác với Nhật.

Tất cả chỉ là giả thuyết, nhưng cái vành cung nho nhỏ trên bản đồ cũng đáng được nhắc lại, ghi dấu một ý tưởng đã được thực hiện dở dang cách đây 60 năm nhưng rất gần với những mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển của một hải cảng từng được coi là quan trọng nhất ở phía Bắc của đất nước.

Nguồn: Xưa và Nay, số 101,tháng 10/2001

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Thanh niên với tương lai đất nước
Ngày 26/3/2026 đánh dấu kỷ niệm tròn 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026). Đây là dịp để thế hệ trẻ ôn lại truyền thống vẻ vang và khẳng định trí tuệ, trách nhiệm và tinh thần đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nhân sự kiện trọng đại này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết với tiêu đề "Thanh niên với tương lai đất nước".
Xây dựng Cổng dữ liệu mở VUSTA: Từ "lưu trữ" đến "tạo giá trị"
Sáng ngày 24/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức Hội thảo “Góp ý cho Cổng dữ liệu mở của VUSTA”. Hội thảo là bước đi chiến lược của VUSTA trong việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung, hướng tới nền tảng tri thức số quốc gia.
Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo) vừa ban hành Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 về Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược của Thường trực Ban Chỉ đạo.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga
Tối 22/3, ngay sau khi tới Thủ đô Moscow, bắt đầu chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn công tác đã gặp gỡ các cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và đông đảo bà con kiều bào đang sinh sống, học tập và làm việc tại Liên bang Nga.
GS.VS. Châu Văn Minh trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI
Chiều ngày 21/3, tại buổi họp báo quốc tế công bố kết quả bầu cử, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã chính thức công bố danh sách 500 đại biểu trúng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất nhiệm kỳ mới. GS.VS. Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.
VUSTA làm việc với Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC)
Chiều ngày 20/3, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi thăm quan và tham gia sinh hoạt khoa học tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm tăng cường sự kết nối giữa các chuyên gia, trí thức VUSTA với đơn vị nghiên cứu công nghệ cao hàng đầu của đất nước.
Tuyên Quang: Tập huấn phổ biến kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho nông dân
Ngày 17-19/3, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phối hợp với UBND các xã: Niêm Sơn, Tát Ngà tổ chức 8 lớp tập huấn phổ biến kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học cho 480 học viên thuộc 12 thôn của các xã: Niêm Sơn, Niêm Tòng (nay là xã Niêm Sơn); Tát Ngà, Nậm Ban (nay là xã Tát Ngà), tỉnh Tuyên Quang, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.
An Giang: Toạ đàm thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Ngày 17-18/3, tại phường Long Xuyên, đã diễn ra tọa đàm và tập huấn “Thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật” với sự tham gia của Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Hội tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp Hội tỉnh An Giang, Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang cùng đông đảo cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh…
Đắk Lắk: Chủ tịch Liên hiệp hội trúng cử đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031
Ngày 17/3, Ủy ban bầu cử tỉnh đã tổ chức hội nghị công bố kết quả bầu cử và danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tại hội nghị, danh sách 84 đại biểu HĐND tỉnh đã được công bố, trong đó có TS. Phan Xuân Lĩnh - Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh.
Nhiều ý kiến của cử tri trí thức gửi tới Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Nhiều ý kiến tâm huyết của đội ngũ trí thức, nhà khoa học đã tập trung vào các vấn đề quan trọng của đất nước như phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hoàn thiện thể chế, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.