Đồng Nhân Tự - đại bản doanh của Tướng Nguyễn Cao
Kiến trúc chúa ta thấy hiện nay gồm nhà tam bảo 7 gian nối liền với nhà khách 5 gian, tạo thế vuông góc chữ L với hai ngôi nhà trên là 5 gian nhà tổ. Trong vườn chùa có 5 ngôi tháp, trước sân nhà tam bảo có tượng Phật bà và một bia đá cổ, chùa có 5 bức đại tự và 15 câu đối.
Ngôi chùa được xây dựng năm 1877. Sau khi Pháp tấn công Bắc Ninh lần thứ nhất (1873) xác các liệt sĩ được chôn rải rác trong các cánh đồng vùng Bắc Ninh, Tôn Thất Thuyết đã tâu trình nhà vua Tự Đức cho tập trung toàn bộ hài cốt về chôn tại núi Đại Tráng rồi xây cạnh đó một ngôi chùa đặt tên là Đồng Nhân tự, để làm nơi hương khói cho linh hồn các nghĩa binh được siêu thoát. “Đồng Nhân tự” có thể hai chữ Đồng Nhân lấy tên quẻ 13 trong 64 quẻ của Kinh dịch, “Đồng Nhân dã, hanh…” nghĩa là hoà đồng tốt lành với những người ở cánh đồng…(vì hài cốt đều từ các cánh đồng qui tụ về).
Được xây từ năm 1877, nhưng năm ấy chùa chưa dựng bia. Năm 1882 nhân việc tướng Nguyễn Cao về trú quân tại chùa, nhà sư trụ trì chùa là Thích Thanh Cao nhờ tướng Nguyễn Cao viết văn bia. Đó là tấm bia chính của chùa (kích thức 120cm x 60cm). Mặt trước bia ghi thời gian, lí do và số tiền tốn phí xây chùa, ngoài ra còn một dòng (dòng 13 tính từ bên phải sang) nói về ông Nguyễn Phẩm đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn (1844) quê ở xã Vạn Ty, huyện Gia Bình, làm quan học chính tỉnh Sơn Tây, đã đọc lại văn bia. (ông Nguyễn Phẩm là thầy dạy học cũ của Nguyễn Cao đã về hưu mà có mặt tại đây, phải chăng ông đã tham gia nghĩa quân chống Pháp).
Đến năm thứ 4 Duy Tân (1910) Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn tướng công (không ghi tên) đến thăm chùa bèn nhắc nhở Quận trưởng quận Võ Giàng Nguyễn Quân và nhà sư trụ trì chùa lúc ấy là Trần Thanh Nhượng (Trần Thanh Nhượng là học trò của Thanh Cao) phải xây dựng thêm nhà. Hai ông đã vận động các nhà chức sắc trong vùng cùng các tăng ni Phật tử đóng góp được gần 1.000 nguyên xây 5 gian này là nhà khách (tư liệu này ghi ở bia đá đặt trong nhà Tam bảo).
Đồng Nhân tự từng là cứ điểm quân sự chống Pháp của nhân dân ta, là đại bản doanh của tướng Nguyễn Cao suốt thời gian phòng thủ và tấn công giặc Pháp trong giai đoạn Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2. Tấm bia đá viết bằng chữ Nho đặt trước nhà Tam bảo kích thước 120 x 60cm cho thấy ông đã đóng quân tại chùa. Bia viết vào ngày 13 tháng 8 năm 1882 (Tán lý Bắc thứ quân vụ Trác Hiên Nguyễn Cao cẩn soạn).
Nguyễn Cao sinh năm 1837 tại xã Cách Bi huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, ông đỗ đầu kỳ thi hương (1867). Ông ra làm quan khi thực dân Pháp đánh ra Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) và thành Hà Nội đã nhanh chóng bị thất thủ. Ông tập hợp nghĩa binh kết hợp với quân của triều đình nổ súng đánh giặc mở đầu cho phong trào chống Pháp rầm rộ của Bắc Ninh. Nhưng ngày 15 – 3 – 1877, triều đình Huế ký hoà ước nhượng đất Nam Kỳ cho Pháp, Nguyễn Cao nhận lệnh bãi binh đem quân đi tiễu phỉ và khai khẩn đất hoang ở vùng Yên Thế (Bắc Giang) và Phú Bình (Thái Nguyên).
Năm 1882 thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần 2, triều đình Huế lệnh cho một số tướng sĩ trong đó có Nguyễn Cao đem quân đến vùng Bắc Ninh, Bắc Giang xây dựng phòng tuyến, đắp luỹ chống giặc. Qua kinh nghiệm cuộc chiến khi Pháp tấn công Bắc Kỳ lần trước, ông nhận định quân Pháp sẽ mở rộng mặt trận sang phía Bắc sông Hồng, đánh vào Bắc Ninh và các vùng phụ cận, nên ông cho dựng phòng tuyến dọc theo Bắc sông Hồng thuộc Gia Lâm và hậu cứ là khu vực thành Bắc Ninh.
Thành Bắc Ninh xây xong năm 1882 thuộc triều vua Minh Mệnh. Đây là ngôi thành cổ đầu tiên được xây dựng theo kiểu sáu cạnh bốn cổng (theo kiểu Vauban của Pháp). Đó là một điểm trọng yếu về quân sự, nơi đầu mối giao thông của cả một vùng rộng lớn, nó có tác dụng kiểm soát đường thuỷ từ biển tiến vào Phả Lại, dọc sông Cầu lên vùng Thái Nguyên. Ngoài ra, nó còn khống chế toàn bộ đường bộ từ Hà Nội qua Bắc Giang và Lạng Sơn, không những vậy đây còn là một trạm trung chuyển kiểm soát giữa vùng trung du và miền núi. Thành Bắc Ninh có điều kiện mở rộng và xây dựng những cứ điểm từ xa, quanh thành phố có một số quả đồi giữ vai trò tiền tiêu như núi Quả Cảm ở phía Bắc, núi Đáp Cầu ở phía Đông, núi Dạm ở phía Nam.
Củng cố phòng tuyến theo chiều sâu để phòng khi thành Bắc Ninh thất thủ, ông cho sửa sang lại thành Tỉnh Đạo (nay thuộc xã Quang Tiến, Tân Yên, Bắc Giang) cùng các căn cứ quân sự thuộc vùng Bắc Giang.
Nguyễn Cao đặt đại bản doanh ở chùa Đồng Nhân cách cửa tiền thành Bắc Ninh 2 kg vì địa điểm chùa rất thuận tiện cho việc theo dõi chỉ huy tác chiến ở tiền tiêu gần chiến tuyến Gia Lâm và vùng hậu cứ là vùng Bắc Ninh Bắc Giang.
Từ căn cứ chùa Đồng Nhân, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh và kéo quân về bao vây thành Hà Nội. Sau trận này, Nguyễn Cao được thăng chức “Tán nương Bắc Ninh”, từ đó nhân dân ta gọi ông là Tán Cao hay Tán Cách Bi. Cuộc chiến ngày một lan rộng và kéo dài thời gian sang suốt năm 1884 và 1885 ở một vùng rộng lớn Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Lạng Sơn. Đội quân của Nguyễn Cao tham chiến nhiều trận, gây cho địch nhiều thiệt hại.
Từng một thời gian gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chùa Đồng Nhân, ngôi chùa cổ độc đáo vùng Kinh Bắc – nơi đặt đại bản doanh của Nguyễn Cao trong suốt thời gian phòng thủ và tấn công giặc Pháp trong giai đoạn Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai - với những di tích, di vật còn lại là một di sản lịch sử văn hoá có ý nghĩa giáo dục truyền thống, cần được bảo tồn và tôn tạo lâu dài.
Nguồn: Xưa và Nay, số 251 – 252, 1 – 2006, tr 78, 79








