Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 29/07/2013 21:55 (GMT+7)

Đọng lại cho khoa học Việt Nam từ sự “ra đi” của một nhà khoa học Mỹ

Mối quan hệ của bà với Việt Nam được bắt đầu sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, năm 1978, khi lần đầu bà có mặt tại nước ta. Kể từ ngày đó, bà đã có hơn 120 lần sang thăm Việt Nam với tư cách Chủ tịch Ủy ban Y tế của Ủy ban Hoa Kỳ về hợp tác khoa học với Việt Nam. Trong lĩnh vực này những gì bà đã làm thật là vô bờ bến.

Nhưng ngoài y tế, những gì bà làm cho Việt Nam, cho sự hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn thật nhiều, như một số những người có mặt tại lễ truy điệu hôm đó có cơ hội phát biểu đã nói. Đó là sự hợp tác sâu rộng với khoa học Việt Nam như giáo sư Nguyễn Văn Hiệu chia sẻ. Đó có thể là việc xách tay bộ phim Bao giờ cho đến tháng 10sang Mỹ dự Liên hoan phim quốc tế Hawaii... đây là lần đầu tiên trình chiếu phim Việt Nam ở Mỹ, để rồi được giải thưởng như đạo diễn Đặng Nhật Minh hồi tưởng. Đó có thể là một người nông dân bị què chân và ung thư ở miền Nam tình cờ gặp bà và được bà hỗ trợ chân giả, và sau đó là giúp chữa trị bệnh ung thư để rồi có thể lấy vợ, đẻ con. Và cũng có thể là một ông bố, làm hải quan ở Hải Phòng, có con bị bệnh máu trắng được bà tìm cho nơi chữa bệnh bên Mỹ và cứu sống bé...Rất nhiều câu chuyện như thế được kể lại hôm đó thể hiện tấm lòng của một nhà khoa học, của một con người với những con người, dù họ có thể đã từng ở hai quốc gia đối địch nhau trong trận chiến.

Và tôi đột nhiên nhớ lại những năm tháng gian truân sau chiến tranh một phần tư thế kỷ trước, khi đó tôi đang còn công tác tại một viện nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Dù đã là năm 1988 sau Đổi Mới rồi, nhưng đời sống vẫn khó khăn mà hoạt động khoa học cũng vẫn vô cùng khó khăn: những cán bộ trẻ tuổi 30 chúng tôi cố gắng tìm cách tiếp xúc với khoa học thế giới. Cửa ra cho khoa học xã hội chỉ là đường đi sang Nga và một số nước XHCN khác: vô cùng chật hẹp vì có quá nhiều người muốn sang đó, học thì một phần nhưng buôn bán làm ăn là phần nhiều hơn. Và cũng vô cùng trắc trở vì khoa học xã hội ở các nước XHCN lúc bắt đầu Perestroika (Đổi mới) có nhiều khuynh hướng khác nhau, từ ca ngợi hết lời những cái đã có đến phê phán cũng  hết lời cũng những lý thuyết đó. Mà trên hết là nền khoa học xã hội ở đó có rất nhiều điểm khác với các nước khác trên thế giới.

Làm thế nào bây giờ? Vẫn là cố gắng gửi thư đến các trường đại học lớn trên thế  giới để tìm cách đặt quan hệ. Nhưng gửi thư đi rất khó khăn: không biết mất bao lâu mới đến và có đến hay không. Và thư trả lời cũng không biết có tới hay không...Và tiền gửi cũng đắt mà cơ quan cũng chẳng có tiền để gửi thư nữa phải đợi duyệt từ phía Ủy ban KHXH phụ trách mới có kinh phí. Nhớ lại vài năm trước đó mà ngại: khi tôi theo học ở Ấn Độ, một lá thư gửi về nhà đi mất 7 tháng và khi trở về nước thì người bạn gái lâu ngày không có tin đã đi tìm bến bờ khác rồi. Có một số mối quan hệ khác mới được bắt đầu với tổ chức dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) nhưng thực sự cũng chưa có gì chắc chắn lắm vì khi đó có mấy ai trong giới khoa học biết đến Liên hiệp quốc có những cơ quan gì ở đó đâu. Có một chuyện tức cười mà tôi còn nhớ mãi: hỏi ban quan hệ quốc tế rằng UNFPA là cơ quan nào thì họ mau mắn trả lời: các anh muốn nói đến UNESCO chứ gì !?

Rồi một buổi sáng, có điện từ Ban quan hệ quốc tế báo tin có nhà khoa học người Mỹ, Judith Lasinsky, muốn đến thăm viện. Đúng giờ, một ngưòi phụ nữ to béo xuất hiện, mang theo một số tạp chí và vui vẻ lắng nghe chúng tôi trình bày những mong muốn của mình. Cuộc trò chuyện diễn ra cởi mở, vị khách ghi lại tỷ mỷ những gì chúng tôi nói. Lúc chia tay, bà có nói là sẽ trao đổi với các nhà khoa học xã hội Mỹ và nhiều người trong số họ đang rất quan tâm đến việc giúp đỡ cho Việt Nam.

Câu chuyện tưởng như chỉ là thế thôi vì bà đến đó một mình, chẳng đại diện cho cơ quan nhà nước nào của Mỹ cả. Trong khi đó khi chúng tôi quan hệ với các đồng nghiệp từ các nước XHCN thì bao giờ cũng phải đúng quy trình: phải có viện đề xuất, có ban quan hệ quốc tế giới thiệu, ban tổ chức cán bộ xem xét rồi lãnh đạo Uỷ ban KHXH cân nhắc. Trong những mối quan hệ khoa học đó chỉ thấy toàn là cơ quan với cơ quan.

Vậy mà chỉ chừng nửa năm sau đã thấy có một giáo sư xã hội học từ Mỹ tới theo lời giới thiệu của bà Lasinsky. Ông mang theo sách vở, thông tin về khoa học xã hội Mỹ và những đề nghị hợp tác rất cụ thể: trao đổi học giả, cử người đi tham quan và đào tạo, cùng tiến hành nghiên cứu và công bố kết quả, Sau đó là nhiều giáo sư khác nữa đến để rồi hơn hai năm sau, mùa xuân năm 1991 cán bộ đầu tiên của viện, với vốn tiếng Anh rất là sơ khởi, lên đường làm tiến sỹ ở Mỹ. Bao nhiêu trục trặc đã xảy ra khi triển khai các quan hê khoa học với nước Mỹ, từ việc lấy visa vào Mỹ phải thực hiện tại Bangkok, Thái Lan cho đến những giấy tờ hành chính khó hiểu phải điền vào để có thể theo học tại Mỹ, và mỗi khi quá khó chúng tôi đều nhờ bà Lasinsky hỗ trợ. Và hầu như lần nào bà cũng giúp đỡ được.

Còn giờ đây thì mỗi năm đã có hàng chục nghìn học sinh, sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập và cũng có không ít sinh viên Mỹ sang thực tập ở nước ta. Một điều mà ngày xưa chúng tôi chẳng bao giờ dám nghĩ tới. 

Thời gian qua đi, mỗi khi nghĩ lại những năm tháng sôi động ấy trong việc thiết lập quan hệ Mỹ - Việt trong khoa học, tôi vẫn thấy bà Lasinsky đã làm cho tôi thấu hiểu được ba điều trong quan hệ với các nhà khoa học Mỹ.

Trước hết, mối quan hệ khoa học là mối quan hệ giữa những người làm khoa học với nhau. Ở họ có những mối quan tâm chung và trên căn bản đó, nhu cầu có quan hệ với nhau đến rất tự nhiên và rất bền vững.Trong khi mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức khoa học có thể là cần, là hữu ích, nhưng không phải là bản chất nguyên thuỷ của mối quan hệ khoa học.

Tiếp đó, sự quan hệ với giới khoa học Mỹ rất đơn giản, không cầu kỳ. Đã có nhiều hội nghị khoa học, người tham dự chỉ cố lo được vé máy bay, còn sang đó sẽ ở nhà của chính các nhà khoa học và đi lại cũng là xe do chủ nhà chở. Cái mà các bạn Mỹ quan tâm đến chỉ là các ý tưởng khoa học mà mỗi người định chia sẻ.Và nếu có cái gì không biết thì xin cứ nói thẳng ra là không biết.Không hề có nét dáng quan phương, hình thức trong mối quan hệ với giới khoa học Mỹ.

Cuối cùng, mạng lưới khoa học My dựa trên sự liên kết tự nguyện những người làm khoa học tuy rất đơn giản nhưng lại vô cùng hùng mạnh và hữu hiệu. Mạng lưới đó tạo dựng lên một hệ giá trị rất là bền vững mà cộng đồng khoa học nhất loạt tuân theo. Tính lương thiện và chuẩn tắc của hoạt động khoa học bắt nguồn từ hệ giá trị này và sức mạnh kiểm soát hành vi của mạng lưới này rất lớn. Trong mạng lưới đó rát khó có chỗ cho sự lừa đảo và dối trá, cho sự lừa đảo và háo danh giả khoa học.

Thấu hiểu những điều này thì quan hệ với giới khoa học Mỹ trở nên rất đơn giản, rất dễ dàng. Có lẽ nhờ học được điều này từ bà Lasinsky nên trong hơn 10 năm tiêp sau đó, khi tôi có cơ hội được lãnh đạo một viện nghiên cứu, mối quan hệ của viện chúng tôi với giới khoa học Mỹ là vô cùng thuận lợi: chẳng có đồng kinh phí nhà nước nào mà hàng chục người đi làm thạc sỹ, tiến sỹ ở những trường đại học ưu tú nhất của nước Mỹ, hàng chục đề tài hợp tác khoa học được tiến hành, các công trình được ào ào công bố và sự hội nhập với thê giới rất thầm lặng và quá suôn xẻ.

Và mỗi nhà khoa học Mỹ chân chính, như bà Lasinsky, đều thấm nhuần hệ giá trị đó và hành xử theo những nguyên tắc cao cả đó.Và việc bà Lasinsky, cùng những nhà khoa học Mỹ khác, giúp đỡ cho Việt Nam chỉ là sự phản ánh cái bản chất nhân văn thật của người Mỹ nói chung và nhà khoa học Mỹ nói riêng.

Những bài học mà bà Lasinsky, “madam Việt Nam” hay “bà đại sứ đầu tiên của Mỹ ở Việt Nam”, như giới khoa học vẫn gọi bà thế, có lẽ là cái người làm khoa học Việt Nam như tôi nhớ mãi.Và tôi nhiều khi vẫn tự hỏi mình phải chăng đấy là những nguyên tắc mà chúng ta nên theo đuổi, nếu muốn xây dựng được một nền khoa học nước nhà hợp chuẩn với quốc tế.

Xin cám ơn bà Lasinsky và cầu chúc cho linh hồn bà được phiêu diêu miền cực lạc!


Xem Thêm

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.