Dọn tẩy chất thải lắng tụ ở ao nuôi tôm
Chất thải lắng tụ ở ao nuôi tôm thường sinh ra hai sản phẩm chính gây độc đối với tôm nuôi, đó là H 2S và NH 3. Tuy nhiên, tính độc của các khí này còn tuỳ thuộc vào nồng độ của chúng, phụ thuộc độ pH và nhiều yếu tố khác nữa.
Khí NH 3trở nên độc đối với tôm khi pH cao và khí H 2S trở nên độc khi pH thấp. Độ pH biểu thị tính axit của nước, khi pH lớn hơn 7 thì nước ao có tính kiềm và khi pH nhỏ hơn 7 nước ao có tính axit. Nước biển thích hợp để nuôi tôm sú khi pH trong khoảng 7,8 và 8,2. pH trong nước ao có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp rất quan trọng đến đời sống tôm nuôi. Nếu pH thấp dưới 7 thường làm tổn thương đến phụ bộ của tôm, ảnh hưởng đến mang và còn gây trở ngại cho tôm lột xác hoặc làm cho tôm bị mềm vỏ.
Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm được sinh ra từ nhiều nguồn và có sự khác nhau giữa các ao nuôi.
- Chất thải lắng tụ thường sinh ra từ các nguồn:
- Đất đáy ao, bờ ao bị xói mòn cho dòng chảy hoặc do mưa.
+ Thức ăn dư thừa tồn đọng lại
+ Chất thải của tôm, xác cuả sinh vật trôi nổi và do nhiều chất lơ lửng có trong nguồn nước cấp vào ao chưa lọc kỹ.
+ Do bón vôi, bón phân xuống ao...
(Xem sơ đồ nguồn vật chất lắng tụ, ảnh trên)
- Mặc dù đất chứa tới 90% chất rắn có thể góp phần đáng kể vào sự hình thành chất lắng tụ, song chúng lại không phải là nguồn gốc chính của sự hình thành chất hữu cơ, mà nguồn gốc hữu cơ chính lại từ nguồn phân tôm, thức ăn thừa, xác sinh vật trôi nổi. Trong ao nuôi tôm khí NH 3có là do sự bài tiết của tôm, sự phân huỷ chất đạm có trong vật chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí (có oxy) và yếm khí (không có oxy). Còn khí H 2S sinh ra trong ao lại do chủ yếu từ các chất hữu cơ lắng tụ khi phân huỷ trong điều kiện yếm khí mà đặc trưng của khí H 2S là mùi trứng thối.
Trong thực tế, hệ thống ao nuôi tôm có năng suất càng cao thì lượng chất hữu cơ lắng tụ càng nhiều. Theo phân tích của chuyên gia nuôi tôm, 1 hecta ao nuôi tôm công nghiệp mật độ thả 40 con/m 2, một vụ nuôi, trong ao đã có 8 tấn chất thải rắn gồm vỏ tôm (khi chúng lột xác), thức ăn dư thừa, chất bài tiết của tôm. Chưa kể hàng chục mét khối nước thải khác. Do vậy trong hệ thống ao nuôi tôm năng suất cao đòi hỏi phải có biện pháãyử lý chất thải lắng tụ một cách nghiêm túc. Theo kinh nghiệm, chất lắng tụ phải được xử lý ngay từ trước khi nuôi tôm (dọn tẩy ao) và trong quá trình nuôi tôm (gom các chất thải lắng tụ ở giữa ao).
Sau mỗi chu kỳ nuôi, số lượng các thành phần chất hữu cơ lắng tụ ở đáy ao càng nhiều, nếu không dọn tẩy, chúng sẽ sản sinh ra khí H 2S và NH 3gây độc cho tôm. Trong thực tế nuôi tôm hiện nay có hai phương pháp dọn tẩy ao: dọn tẩy khô và dọn tẩy ướt.
Dọn tẩy khô: Khi cải tạo phơi khô được đáy ao, sau khi làm cạn nước phơi khô đáy và có thể thu dọn các chất thải bằng tay hoặc bằng máy.
Dọn tẩy ướt: Vào thời kỳ cải tạo ao hay vào mùa mưa và ao lại không tháo cạn được nước. Dùng bơm có áp lực lớn hút cạn nước và bùn, chất thải ra khỏi ao. Bùn và chất thải được chứa vào ao riêng hoặc bãi thải. Sau đó có thể sử dụng bùn và chất thải khô đem đi bón các cây ăn quả. Phương pháp này tuy có tốn kém song làm nhanh, rút ngắn được thời gian giữa hai vụ nuôi và tẩy ao được trong mọi thời tiết.
Trong quá trình nuôi tôm, gom tập tung được các chất thải lắng tụ ở giữa ao để thải qua cống là hạn chế tối đa được sự phân huỷ của vi khuẩn yếm khí, làm giảm được lượng khí NH 3sinh ra trên bề mặt của chất thải. Đồng thời cũng hạn chế được sự khuyếch tán của khí NH 3, H 2S từ các chất thải. Để thực hiện được điều này, đối với ao nuôi tôm năng suất cao người ta thường áp dụng phương pháp chọn vị trí và hướng đặt máy sục khí cho phù hợp với hình dạng của ao để tạo được dòng nước vòng quanh ao. Ví dụ:
![]() |
Nếu khoảng cách giữa các máy sục khí lớn hơn 70m thì đặt thêm số máy sục khí ở cùng hàng với các máy hiện có và cạnh bờ ao từ 5 đến 7m và ô giữa các máy hiện có, đồng thời đặt chúng vào ao cùng một thời gian để tránh gây xáo trộn các chất thải lắng tụ trong ao, nhằm không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ao nuôi.
Nguồn: Khoa học và đời sống, số 7 (1725), ngày 24/1/2005








