Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/09/2007 22:30 (GMT+7)

Đổi mới công nghệ và thiết bị - nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn phát triển mới của ngành than

Cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ cũng đưa đến những thay đổi về cơ cấu trong nền kinh tế thế giới. Khu vực công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn và khu vực nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn. Điều đáng chú ý là chu kỳ thay đổi công nghệ trong thời đại công nghiệp trước đây là khoảng 10 hoặc 20 năm, nhưng trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thì chu kỳ này chỉ còn là trên dưới 2 năm.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo cho các nước đang phát triển nhiều cơ hội để rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển và đưa nền kinh tế lạc hậu của họ tiến nhanh lên trình độ cao hơn. Cuộc cách mạng này cũng tạo cho các nước đang phát triển có thể có cơ hội bỏ qua giai đoạn phát triển tuần tự của cuộc cách mạng công nghiệp và đi thẳng vào cuộc cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội, không kịp thời đi thẳng vào cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thì nguy cơ tụt hậu sẽ càng lớn, khoảng cách giữa ta và các nước công nghiệp phát triển sẽ nới ra rất rộng và rất nhanh.

Nghị quyết số 27/CP (28/03/1997) của Chính phủ về ứng dụng và phát triển cộng nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu rất nặng nề và không dễ gì có thể thực hiện được, nêu lên trong Nghị quyết này là “Đến năm 2010 trình độ công nghệ của nước ta trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung phải tiếp cận với trình độ của các nước phát triển trong khu vực. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, công nghệ sản xuất phải được đổi mới về cơ bản với mức độ tự động hóa phát triển ở mức cao. Một số lĩnh vực phải đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, góp phần quan trọng đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020”, là năm mà khoa học và công nghệ của thế giới sẽ đạt tới đỉnh cao.

1. Công nghệ bao gồm những nội dung gì?

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Công nghệ - có nghĩa là tổng hợp các yếu tố, điều kiện, biểu hiện khả năng cho phép để tiến hành sản xuất ra một loại sản phẩm, hoặc để hoàn thành một công trình hay một công việc hoàn chỉnh nào đó”. Tuy nhiên, xét về bản chất theo cách hiểu của các nhà khoa học thuộc Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì công nghệ bao gồm 4 thành phần tác động qua lại trong mối quan hệ biện chứng, bao gồm:

- Thiết bị: máy móc, phụ tùng, nhà xưởng, công cụ lao động, nguyên nhiên vật liệu v.v.

- Con người: trình độ tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy được, v.v.

- Thông tin: các cơ sở dữ liệu, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, hệ thống định mức, bí quyết công nghệ, v.v.

- Tổ chức: hệ thống quản lý, điều hành, cơ cấu, chức năng, v.v.

2. Thực trạng công nghệ ngành than hiện nay ra sao?

Nếu xem xét các thành phần kể trên của công nghệ thì rõ ràng là công nghệ thiết bị trong hầu hết các ngành công nghiệp nước ta trong đó có ngành than còn khá lạc hậu. Nhiều thiết bị, kể cả những thiết bị khá đơn giản được đầu tư từ 20 – 30 năm về trước, đã hết khấu hao vẫn đang tồn tại trong các dây chuyền sản xuất ở các xí nghiệp. Nhược điểm điển hình của các thế hệ máy móc này là năng suất thấp, tiêu hao năng lượng cao, điều hành khó khăn, gây ô nhiễm cho môi trường...

Các số liệu khảo sát đánh giá cho thấy đa số thiết bị máy móc của các xí nghiệp công nghiệp trong đó có ngành than đã lạc hậu so với thế giới 2 – 3 thế hệ.Hệ số đổi mới thiết bị của các xí nghiệp công nghiệp Việt nam trong 10 năm gần đây (trừ các xí nghiệp liên doanh, đầu tư nước ngoài) cũng chỉ vào khoảng 10 – 20% so với 60 – 70% của các nước trên thế giới. Hệ số tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu gấp 1,2 – 1,5 lần so với mức trung bình của thế giới. Điều này không chỉ làm cho chất lượng và giá thành sản phẩm khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường, mà năng suất của các dây chuyền công nghệ và của người lao động để đáp ứng nhu cầu của thị trường, cũng khó mà có thể đem so sánh với các dây chuyền cùng loại trên thế giới. Ví dụ điển hình là - trong khi ngành than nước ta đang phấn đấu để công suất của lò chợ có thể đạt tới con số 150 – 200 nghìn tấn/năm, thì trên thế giới hiện tại đã có hàng nghìn lò chợ có công suất trên 1 triệu tấn/năm. Chúng ta đang phấn đấu đẩy nhanh tốc độ đào lò, nhất là đào các lò đá – đích vươn của các gương đào này là 100 m/tháng, trong khi trên thế giới hiện nay có khá nhiều đội đào lò có thể đạt tới con số 800 – 1000 m/tháng đối với các trường lò có tiết diện 25m 2.

Đầu tư cho việc đổi mới thiết bị cũng đã gặp không ít khó khăn nhưng có lẽ còn dễ hơn cho con người. Có tiền có thể mua ngay được thiết bị, máy móc nhưng không thể đào tạo ngay được những con người có khả năng tiếp thu, vận hành một cách khoa học, phát huy hết công suất các máy móc thiết bị, công nghệ mới. Và một sự thực hiển nhiên là có con người đào tạo ở trình độ cao cũng chưa chắc đã có ngay các điều kiện để họ phát huy tác dụng tích cực và ở đây cũng còn tồn tại hàng loạt các vấn đề xã hội cần phải giải quyết đồng bộ mới có thể phát huy được hết các sản phẩm trí tuệ này. Đầu tư cho con người có lẽ cần phải đi trước một bước so với đầu tư máy móc, thiết bị. Lao động công nghệ cần phải được đánh giá đúng trong cơ chế thị trường mới có được những tác động tích cực, bởi cũng đã có quá nhiều người và nhiều công trình nghiên cứu cho rằng lực lượng cán bộ KHKT Việt Nam nói chung và ngành mỏ nói riêng không phải là thiếu nhưng vì sao họ vẫn chưa đáp ứng được công cuộc CNH – HĐH đất nước trong những năm vừa qua.

Thông tin là một đầu vào quan trọng để phát triển công nghệ. Chúng ta chưa quen với khái niệm thông tin là một loại hàng hóa. Nhiều người còn cho rằng có máy tính là có thông tin. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng thậm chí có các phần mềm rồi nếu không biết khai thác, sử dụng nó thì đó cũng chỉ là những thứ để trang trí mà chẳng giúp ích gì. Để làm cuộc cách mạng về công nghệ thông tin, chúng ta vẫn chưa có cơ sở dữ liệu đúng và đầy đủ, nhiều khi chưa nắm được cả kinh nghiệm và định hướng công nghệ, bí quyết công nghệ của các nước. Kênh thông tin công nghệ này thường được thông qua các công ty tư vấn. Nước nào có các công ty tư vấn mạnh, kèm theo với nó là các chính sách khuyến khích trong tư vấn thì sẽ có điều kiện để đầu tư công nghệ chính xác hơn, hiệu quả hơn.

Tổ chức, quản lý sản xuất là một trong những thành phần quyết định nhất trong số 4 yếu tố cấu thành công nghệ. Một khi giải pháp công nghệ được định hình thì cơ chế quản lý phù hợp và mô hình tổ chức hợp lý sẽ tạo động lực cho công nghệ phát triển lên mức cao hơn. Ví dụ như nếu tính khấu hao cho một số ngành có tốc độ phát triển cao như công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa là 10% thì thực sự là bất hợp lý, kìm hãm sự đổi mới công nghệ.

3. Làm gì để đổi mới công nghệ thiết bị trong ngành than?

Mặc dù trong những năm qua tuy còn những tồn tại, nhưng cũng rất mừng là các ngành công nghiệp nước ta, trong đó có ngành than đều đã tăng trưởng với nhịp độ cao có ngành đến 20 – 30%/năm. Tuy nhiên, nếu không đổi mới công nghệ chúng ta sẽ không thể giữ nhịp độ tăng trưởng như vậy. Việc đổi mới công nghệ phải được coi là một quá trình liên tục và định kỳ qua mỗi giai đoạn nhất định, mỗi ngành cần phải tiến hành đánh giá lại trình độ công nghệ của ngành mình.

Trên thế giới trình độ của các công nghệ đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của sức hút thị trường và sự thúc đẩy của khoa học. Trước đây, việc kế hoạch hóa thường được thực hiện với giả định là trình độ công nghệ đứng yên tại chỗ so với tầm nhìn của kế hoạch. Giả định đó ngày nay không còn phù hợp nữa. Một yêu cầu cấp thiết đặt ra ở các nước là phải định kỳ tiến hành phân tích một cách toàn diện về trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp để xem mình đang đứng ở đâu và phải đi theo hướng nào để có sự lựa chọn phù hợp cho việc đổi mới và tiến bộ nhanh chóng về công nghệ.

Chúng ta đều dễ nhận thấy rằng mô hình tăng trưởng của công nghệ thiết bị nói chung đều qua ba giai đoạn: đầu tiên là giai đoạn tiếp thu với nhịp độ tăng trưởng chậm; rồi đến đoạn tăng trưởng nhanh khi thuần thục công nghệ và cuối cùng là tăng trưởng chậm lại đòi hỏi phải thay thế bằng công nghệ và thiết bị mới có sức tăng trưởng mạnh hơn. Đó là sự thay đổi tuần tự đúng với quy luật khách quan.

Do vậy mà yêu cầu trước tiên, cần phải làm là phải thường xuyên rà soát, đánh giá lại trình độ công nghệ của ngành mình, xác định một cách tương đối chính xác “cấp độ công nghệ” của một ngành bao gồm xác định một số các thông số cơ bản, giúp ta dự đoán trình độ thực tế của ngành mình, so sánh với trình độ công nghệ của các nước. Đó cũng là dịp để ta nắm bắt cơ hội, bỏ qua một số thế hệ, đi trước đón đầu một số công nghệ tiên tiến nào đó của thế giới mới mong có cơ hội khỏi bị tụt hậu, đuổi kịp họ trong một tương lai không phải là quá xa vời.

Ngành than là một ngành có công nghệ đa dạng và khá phức tạp để phục vụ cho việc khai thác các mỏ lộ thiên, các mỏ hầm lò, các nhà máy sàng tuyển và chế biến than, các nhà máy cơ khí phục vụ cho sản xuất than. Để đáp ứng cho nhu cầu gia tăng sản lượng với nhịp độ cao của ngành đã đề ra, chúng tôi cho rằng việc triển khai đánh giá trình độ công nghệ của ngành than cũng như của các ngành công nghiệp khác vào thời điểm này là vô cùng cấp thiết để làm căn cứ:

- Giúp Nhà nước, ngành than xây dựng các chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển ngành, chế độ quản lý nhằm đưa kỹ thuật mới vào sản xuất, chuyển giao công nghệ, khuyến khích lao động sáng tạo, nhằm đưa sản xuất vào nề nếp trên cơ sở thực hiện các tiêu chuẩn, định mức, an toàn và bảo vệ môi trường;

- Xác định và đề xuất các biện pháp nhằm phát huy năng lực hiện có của ngành cũng như định hướng cho việc đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường;

- Định hướng cho việc tham khảo xây dựng và xét duyệt các luận chứng đầu tư (nhất là đầu tư có chiều sâu và đầu tư cho chuyển giao công nghệ) cũng như giám định “cấp độ công nghệ” của các công trình đầu tư trên cơ sở các tư vấn về công nghệ.

Hy vọng rằng việc đổi mới công nghệ và thiết bị trong các ngành công nghiệp nước ta trong đó có ngành than sẽ được triển khai mạnh mẽ trong giai đoạn tới, đáp ứng yêu cầu cấp thiết về năng lượng của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.