Đôi điều về dân tộc Mông
Trải qua hơn 8 thế kỷ các triều đại phong kiến Trung Quốc, từ Đường - Tống - Nguyên - Minh - Thanh với vô số các cuộc nổi dậy của nông dân mà trong đó người Mông cũng tham gia. Song lần lượt các cuộc khởi nghĩa này đều bị chính quyền phong kiến dìm trong tang tóc. Đến giữa thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa Hàm Đông năm 1853 dưới sự lãnh đạo của Trương Tú Mi, bắt đầu từ Đông Nam Quý Châu, lan sang các tỉnh Hồ Nam và Vân Nam, kéo dài suốt 18 năm ròng rã. Nhà Thanh đã tàn sát với quy mô huỷ diệt, riêng vùng Quý Châu có trên 60 vạn người Mông, sau khởi nghĩa chỉ còn vài vạn.
Trong hoàn cảnh chính trị - xã hội rối ren, tộc người Mông tiến hành những cuộc thiên di. Mục đích chính nhằm trốn chạy những cuộc truy sát đẫm máu của vương triều nhà Thanh, mặt khác cũng phản ánh tư tưởng bất hợp tác và sau cùng là tìm chỗ sinh sống làm ăn. Nơi họ đến là các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. “Hiện nhiều vùng người Mông, trong tang lễ còn có nghi thức mô phỏng những động tác chống trả kẻ thù. Quần áo cho người chết cũng phải xé rách, không quên “dặn” linh hồn luôn nhớ cuộc đời cơ cực của cha ông trên đường thiên di về phương Nam . Tổ quốc Việt Nam trở thành quê hương, là nơi gắn bó thiêng liêng của họ.
Trong quá trình phát triển, dân tộc Mông được chia ra làm nhiều nhóm trên cơ sở trang phục phụ nữ. Đó là, Mông trắng (Mông đâu), phụ nữ mặc váy màu trắng; Mông hoa (Mông lềnh/lình), phụ nữ mặc váy thêu hoa; Mông đỏ (Mông si), phụ nữ cũng mặc váy hoa nhưng màu đỏ là chủ đạo; Mông đen (Mông đú), phụ nữ mặc váy màu đen; Mông xanh (Mông súa/lai), phụ nữ mặc quần màu xanh,… Tuy khác nhau về nhóm nhưng vẫn sử dụng tiếng nói chung, sự khác biệt số lượng các âm tiết là không đáng kể.








