Đỗ mai
Đại mộc, cao 4 – 8 mét. Lá một lần kép, mang 5 – 15 lá phụ màu lục, mốc mốc. Hoa mọc thành chùm ở sẹo lá, màu hường hay trắng rất đẹp. Quả đậu dài 7 – 18 cm.
Theo sách “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” - Phạm Hoàng Hộ, Nhà xuất bản Trẻ 2006, hoa và lá có thể được dùng làm rau nấu canh như So đũa, nhưng không nên ăn nhiều, có thể gây loãng máu. Gỗ chứa roninetin glucosid và sapiol có tính kháng nấm Candida albican. Ở Dominique, lá làm trà trị huyết áp cao, mỏi mệt, ho, lậu. Rễ làm trà trị phù thũng do bệnh thận, vàng da do bệnh gan.
Những nghiên cứu khoa học cho thấy Đỗ mai chứa khoảng 4% tanin, afrormosin, medicapin, isoflavon. Gỗ chứa gliricidin, gliridol.
Medicapin (pterocarpan) chống nấm tốt.
Tanin của Đỗ mai được chứng minh có khả năng trị được tiêu chảy, tả, ỵ, chống oxy hoá, ngừa ung thư, trị bệnh thận, kháng sinh (kháng khuẩn và siêu vi), kháng nhiều loại nấm, bảo vệ gan và diệt côn trùng. Kinh nghiệm dân gian các nước thường dùng trị cảm cúm, sốt nóng, ho, nhức đầu, mệt mỏi, cao huyết áp. Liều dùng cho người lớn: 12g cành lá khô sắc uống/ngày. Dùng 3 – 5 ngày.
Ngoài ra, Đỗ mai còn được dùng cho nông nghiệp như:
Dùng cành lá làm phân xanh tốt và diệt được các loài tuyến trùng.
Dùng nước sắc cành, lá thoa lên trâu, bò… để trị bệnh ngoài ra và diệt hoặc ngừa muỗi và côn trùng, rận hút máu gia súc.
Dùng cành lá sắc đặc trộn với gạo, bắp làm bả diệt chuột. Chuột ăn bả này sẽ bị xuất huyết và chết trong 3 – 5ngày sau.








