Điều trị cao huyết áp bằng thuốc
Chọn thuốc hạ huyết áp
5 lớp thuốc hạ huyết áp chủ yếu (lợi tiểu thiazidic, chẹn bêta, ức chế canxi, ức chế men chuyển và đối kháng thụ thể angiotensin II (ARA-II) có thể được khuyên dùng đầu tiên khi bắt đầu chữa trị cao huyết áp vô căn không biến chứng [HAS (thẩm quyền cao về sức khoẻ) tháng 7/2005].
Các chẹn alpha và thuốc hạ huyết áp trung ương có thể giúp đạt số huyết áp yêu cầu trong trường hợp xảy ra hiệu năng không mong muốn hoặc khi cần phải sử dụng ba lớp thuốc hạ huyết áp cùng một lúc (HAS tháng 7/2005).
Tất cả các họ thuốc hạ huyết áp đều có những điểm lợi và bất lợi riêng biệt cho một bệnh nhân nào đó; vai trò của thầy thuốc là chọn lựa, phối hợp, định rõ liều lượng tuỳ đặc điểm của mỗi người.
Một số lớp thuốc hạ huyết áp được sử dụng ưu tiên trong các tình huống sau đây:
- Đái tháo đường (týp I và II) ngay từ giai đoạn vi albumin niệu: ức chế men chuyển hoặc ARA-II;
- Suy tim: ức chế men chuyển (hay ARA-II trong trường hợp không dung nạp), lợi tiểu, chẹn bêta;
- Đau thắt: chẹn bêta hoặc ức chế canxi;
- Cao huyết áp tâm thu của người già: lợi tiểu thiazidic, ức chế canxi dihydropyridin hiệu năng dài;
- Cao huyết áp và dày thất trái: ARA-II, lợi tiểu thiazidic.
Các lớp thuốc hay thuốc sau đây chống chỉ định dùng trong một số tình huống (danh sách không đầy đủ):
- Lợi tiểu: gút, thai nghén/lợi tiểu tiết kiệm kali: suy thận, tăng kali huyết;
- Chẹn bêta: hen suyễn, bệnh phế quản - phổi mạn tắc nghẽn, bloc nhĩ thật độ 2 hay độ 3;
- Vérapamil, Diltiazem: Bloc nhĩ - thất độ 2 hay độ 3, suy tim sung huyết;
- Ức chế men chuyển và ARA-II: thai nghén, hẹp có ý nghĩa hai bên động mạch thận hoặc trên một thận duy nhất, tăng kali huyết;
- Chẹn alpha: hạ huyết áp thế đứng.
Thích ứng điều trị bằng thuốc
Được khuyên bắt đầu điều trị bệnh cao huyết áp bằng một thứ thuốc. Cũng có thể dùng loại kết hợp chung các thuốc hạ huyết áp với liều nhỏ trong một viên với mục tiêu tăng hiệu nghiệm hạ huyết áp mà không tới ngưỡng những hiệu năng không mong muốn.
Bước thứ hai, đưa hai loại thuốc vào điều trị trong thời gian tối thiểu 4 tuần lễ, trong trường hợp số huyết áp không đáp ứng đủ với cách điều trị đầu. Cũng có thể áp dụng sớm hơn cách điều trị bằng hai loại thuốc ở bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao.
Sau 4 tuần lễ điều trị như lúc khởi đầu, bệnh trạng không đáp ứng gì cả, hay trong trường hợp có xảy ra hiệu năng không mong muốn, cơ quan thẩm quyền cao về sức khoẻ khuyên nên đổi lớp thuốc điều trị.
Chọn một kết hợp thuốc
Cần giải thích với bệnh nhân cao huyết áp: thường, việc kiểm tra số huyết áp đòi hỏi sử dụng hai, thậm chí ba thứ thuốc. Trong vài trường hợp ít gặp hơn, có thể có lý phải dùng bốn hoặc năm thứ thuốc.
Dùng ba thứ thuốc điều trị cao huyết áp, luôn luôn phải có một lợi tiểu thiazidic.
Trong thực tiễn, những kết hợp cho hiệu nghiệm và được dung nạp tốt là những kết hợp sau đây:
- Chẹn bêta và lợi tiểu thiazidic;
- Lợi tiểu thiazidic và ức chế men chuyển (hoặc ARA-II);
- Chẹn bêta và ức chế canxi (dihydropyridin);
- Ức chế canxi và ức chế men chuyển (hoặc ARA-II);
- Ức chế canxci và lợi tiểu thiazidic.
Các kết hợp trên được tóm tắt trong hình dưới đây: (hình 1)
Chiến lược điều trị được áp dụng tuỳ mức độ cao huyết áp và mức độ yếu tố nguy cơ tim mạch của người bệnh
Các mục tiêu huyết áp
Điều trị cao huyết áp có mục đích hạ số huyết áp dưới một số định trước từng cá nhân một. Cao huyết áp được gọi có kiểm soát khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đều thấp hơn số của mục tiêu, thường là 135/85mmHg khi tự do.
Ở người lớn tuổi (trên 75 đến 80 tuổi), trong trường hợp xảy ra hiệu năng không mong muốn hay hạ huyết áp thế đứng có thể chấp nhận mục tiêu ít chặt chẽ hơn.
Ở bệnh nhân đái tháo đường, mục tiêu huyết áp là dưới 130/80mm Hg.
Ở bệnh nhân suy thận, mục tiêu huyết áp là dưới 130/80mm Hg và protein niệu dưới 0,5g/ngày.
Chiến lược chữa trị
Trong trường hợp nguy cơ tim mạch cao, phác đồ điều trị cao huyết áp được áp dụng ngay kết hợp với các biện pháp vệ sinh - thực chế mà không đợi những cách làm đó mang đến lợi ích có thể có.
Ở những bệnh nhân mà huyết áp ở giữa khoảng 140/179 tâm thu và 90-109mm Hg tâm trương và có yếu tố nguy cơ nhỏ hay trung bình, cơ quan thẩm quyền cao về sức khoẻ khuyên xác định chẩn đoán bệnh cao huyết áp bằng cách tự đo huyết áp hay đo ngoài phòng khám.
Nếu xác định đúng là cao huyết áp, chỉ áp dụng đơn độc các biện pháp vệ sinh - thực chế trong vòng 6 tháng (nguy cơ tim mạch ít) hoặc trong vòng 1 đến 3 tháng (nguy cơ tim mạch trung bình). Nếu mục tiêu huyết áp không đạt thì sẽ bắt đầu chữa trị bằng thuốc.
Nguồn: Thuốc và Sức khoẻ, số 308, 15/5/2006, tr 22







