Điều trị bệnh đau nửa đầu
Sự di truyền theo hướng bố mẹ, con cái đã phát hiện thấy trong khoảng từ 60-80% trường hợp. Vì vậy, bố mẹ và thầy cô giáo cần quan tâm phát hiện những biểu hiện đau đầu của con trẻ.
Diễn biến của bệnh có tính chu kỳ, mỗi người bệnh có một nhịp độ tái phát cơ đau nửa đầu riêng.
Bệnh lại biểu hiện dưới nhiều bệnh cảnh khác nhau, nên có nhiều thể bệnh với nhiều triệu chứng mang nhiều màu sắc khác nhau, không phải bao giờ đau cũng khu trú ở đầu một cách đơn độc, mà trái lại còn có những rối loạn tại các bộ phận cơ quan nội tạng ở xa đầu.
Các triệu chứng của cơn đau nửa đầu lại mang tính chất định hình riêng, tức là cơn xuất hiện với triệu chứng gì và kết thúc kiểu gì, nói chung đều tương tự như cơn trước, mà chỉ khác nhau về cường độ và thời gian kéo dài. Đau nửa đầu có nhiều thể bệnh:
Thể đau nửa đầu thông thường.
Những dấu hiệu sớm trong giai đoạn tiền triệu:
Bất thần xuất hiện trước cơn, chừng vài giờ hay từ ngày hôm trước.
Rối loạn tiêu hoá: trướng bụng, ngang dạ, đầy hơi, chán ăn, có khi lại thích ăn nhiều hơn.
Lo âu, buồn rầu mơ hồ, không muốn giao tiếp với người xung quanh.
Mất ngủ, đầu óc căng thẳng, hay cáu gắt.
Cơn đau đầu
Cơn đau ập tới, có thể rất dữ dội, liên tục, thỉnh thoảng lại có cơn kịch phát dội lên từng đợt. Cơn có thể kéo dài, nối tiếp nhau trong nhiều giờ, từ 24-48 giờ.
Đau đầu tăng cường độ, do ánh sáng, tiếng động hoặc một mùi nào đó. Điều này buộc bệnh nhân phải tìm một chỗ yên tĩnh, không ánh sáng.
Đau đầu mang tính chất; cảm giác nặng đầu, rất khó chịu, nẩy theo mạch đập đồng thời với nhịp tim.
Đặc biệt lại kèm theo rối loạn tiêu hoá: buồn nôn, nôn thốc nôn tháo ra thức ăn, đắng, nước màu xanh (dịch mật).
Cuối cơn, xuất hiện chóng mặt, đi lại mất thăng bằng, tăng bài tiết nước tiểu hoặc đi lỏng.
Kết thúc cơn bằng một giấc ngủ, tỉnh dậy người cảm thấy dễ chịu, khoan khoái.
Vị trí đau đầu thường khu trú ở một bên của đầu vùng trán, hố mắt hay thái dương, đôi khi lan ra sau đầu (vùng chẩm).
Từ cơn này đến cơn khác, đau đầu có thể thay đổi bên, đôi khi không khu trú rõ ở bên nào, có khi luân phiên nhau mỗi bên, nhưng cuối cùng vẫn đau trội hơn ở một bên.
Một số bệnh nhân tiến triển bệnh mang tính chu kỳ, một số khác có thể lặp đi lặp lại thường xuyên, hiếm hơn cơn trở thành liên tiếp.
Ngoài ra, còn nhiều thể bệnh có bảng lâm sàng rất phức tạp như thể đau nửa đầu loạn thị (rối loạn thị giác theo nhiều kiểu khác nhau), đau nửa đầu có hư tổn thần kinh kèm theo. Đáng chú ý là thể đau nửa đầu ở trẻ em, mang tính chất gia đình, di truyền và đau nửa đầu hành kinh, biểu hiện đau đầu tăng lên trong thời kỳ kinh nguyệt. Trái lại, trong thời kỳ mang thai, đau đầu lại giảm nhẹ hẳn.
Tất cả các thể bệnh đau nửa đầu, nếu không được phát hiện, điều trị chu đáo sẽ dẫn đến tình trạng dai dẳng, tiêu chảy và trở thành bất trị.
Việc chuẩn đoánchứng đau nửa đầu rất khó, vì nó có một số triệu chứng tương tự như một số bệnh thần kinh khác. Bởi vậy bệnh nhân cần được khám tại các chuyên khoa thần kinh. Có một số bệnh cần được chẩn đoán phân biệt như động kinh, cơn thiếu máu tạm thời, đau đầu trong cơn tăng huyết áp và đặc biệt là hội chứng tăng nội sọ do một khối u phát triển choán chỗ trong hộp sọ chèn ép não.
Để điều trị,hiện nay có nhiều loại thuốc khá công hiệu, nhưng cần có thầy thuốc chuyên khoa chỉ định.
- Ergotamin tartratelà thuốc đặc hiệu truyền thống dùng cắt cơn đau nửa đầu với các biệt dược: Gynergène, Gynergène caféine, Migwell.
- Dihydroergotamine Mesilat (DHE methane sulfonate )có tác dụng điều trị nền, duy trì sau khi đã cắt cơn đau đầu, với các Tamik, Séglor, Hydregine, Dyhydergot.
- Pizotifen ( Sando Migran, Sanmigran).
- Khí dung Dihydroer gotamine-nasal-spray.








