Điện hạt nhân đang hồi sinh
Tính đến tháng 12-2005, toàn thế giới có 443 nhà máy ĐHN đang hoạt động với tổng công suất lắp đặt là 369,678 GW và 23 nhà máy đang được xây dựng. ĐHN đang phát triển mạnh tại châu Á với 19 lò trong số 32 lò phản ứng đang được xây dựng trên toàn thế giới nằm tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên. Năng lực và công suất ĐHN lớn nhất ở châu Á thuộc về Nhật Bản với 54 nhà máy và Hàn Quốc là 18 nhà máy. Tại Nga, hiện có 30 nhà máy đang hoạt động và 3 nhà máy khác đang được xây dựng. Riêng Mỹ, nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, tuy từ năm 1978 đến nay không xây mới thêm nhà máy ĐHN nào, nhưng cũng đã tuyên bố ủng hộ việc mở rộng NLHN.
Lít-va là nước hiện có tỉ trọng dùng ĐHN cao nhất, chiếm 80,1% tổng sản lượng điện phát ra, tiếp đó là Pháp (78%),Slovakia(65,4%) và Bỉ (57,3%). Các dự báo dài hạn đều khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của ĐHN trên phạm vi toàn cầu trong thế kỉ XXI. Theo nghiên cứu năm 2003 của Viện Công nghệ Ma-sa-chu-sét (Hoa Kỳ), đến năm 2050, công suất ĐHN sẽ tăng lên 1.000.000 MW và cung cấp 19% tổng nhu cầu điện năng của thế giới. Hiện một số nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc đang triển khai mạnh mẽ chương trình phát triển ĐHN. Theo kế hoạch đến năm 2020, Trung Quốc sẽ có 40 tổ máy ĐHN hoạt động. ấn Độ có kế hoạch tăng 10 lần công suất ĐHN vào năm 2022 và 100 lần vào giữa thế kỉ so với mức hiện nay. Trong khu vực Đông Nam á, In-đô-nê-xi-a đã quyết định xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên vào năm 2010 gồm 4 tổ máy với tổng công suất 4000 MW và sẽ đưa vào vận hành vào năm 2016.
Về mặt an toàn hạt nhân, hai sự cố nhà máy ĐHN tại Hoa Kỳ và Liên Xô (cũ) đã gây tâm lý lo ngại về việc phát triển ĐHN. Sau đó, các nước đã có những cải tiến đáng kể về công nghệ và quản lý, bảo đảm an toàn gần như tuyệt đối cho các nhà máy ĐHN. Hiện thế giới có 3 loại công nghệ lò phản ứng chủ yếu. Đó là: công nghệ lò nước áp lực (PWR) chiếm 59,5%, công nghệ lò nước sôi (BWR) chiếm 20,8% và công nghệ lò nước nặng (PHWR) chiếm 7,7%. Các lò đang vận hành chủ yếu thuộc thế hệ thứ II. Một số nước đã xây dựng hoặc đang có kế hoạch thay thế các lò hết hạn sử dụng bằng loại lò thế hệ III với độ an toàn nâng cao, thiết kế gọn hơn, công nghệ xử lý tín hiệu số được đưa vào hệ điều khiển. Đặc biệt, loại lò thế hệ IV với nhiều tính năng ưu việt như: an toàn hơn, lượng chất thải phóng xạ ít hơn, kinh tế hơn và giảm thiểu nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân.
Nhiên liệu cho các nhà máy ĐHN hiện nay là urani, được cung cấp khá ổn định trên thị trường thế giới. Chi phí cho nhiên liệu, vận hành và bảo dưỡng nhà máy ĐHN chỉ chiếm 20-25% trong cơ cấu giá điện. Cho nên, nếu giá nhiên liệu tăng gấp đôi thì giá thành sản xuất ĐHN chỉ tăng thêm 2-4%, trong khi giá nhiệt điện khí sẽ tăng đến 60-70%. Ngoài mục tiêu phát điện, các lò phản ứng hạt nhân còn được sử dụng để cung cấp nhiệt cho các quá trình công nghiệp như sản xuất nước ngọt từ nước biển, sản xuất hydro từ nước... Đây chính là những lợi thế cạnh tranh của NLHN mà các nguồn năng lượng khác khó có thể sánh kịp.
Ở ViệtNamhiện nay, nguồn điện năng chính là nhiệt điện than, nhiệt điện khí và thủy điện. Năng lượng mới và năng lượng tái tạo chỉ có thể tạo ra nguồn năng lượng nhỏ, chưa chiếm tỉ trọng đáng kể trong cân bằng năng lượng. Trong khi đó, theo dự báo, nhu cầu điện sản xuất theo phương án giả thiết tốc độ tăng trưởng GDP là 7,1-7,2%/năm cho giai đoạn 2001-2020 là 201 tỷ kWh vào năm 2020 và 327 tỷ kWh vào năm 2030. Với nhu cầu đó, khả năng huy động tối đa các nguồn năng lượng nội địa của nước ta tương ứng chỉ là 165 tỷ kWh vào năm 2020 và 208 tỷ kWh vào năm 2030. Như vậy, đến năm 2020, nước ta sẽ thiếu tới 36 tỷ kWh và đến năm 2030 thiếu gần 119 tỷ kWh. Xu hướng gia tăng sự thiếu hụt nguồn điện trong nước sẽ ngày càng gay gắt hơn và tiếp tục kéo dài trong những giai đoạn sau. Đây là lý do cho thấy sự cần thiết xuất hiện các nhà máy ĐHN ở ViệtNam.
Để giải quyết vấn đề trên, trong Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004-2010, định hướng đến năm 2020, một trong các phương án cung ứng điện năng mà Bộ Công nghiệp đề xuất là xây dựng nhà máy ĐHN. Theo phương án đó, nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ được xây dựng với quy mô công suất từ 2000-4000 MW, chiếm 5-9% tổng công suất phát điện của quốc gia.
Mặt khác, thông qua hoạt động nghiên cứu triển khai về năng lượng nguyên tử trong gần 30 năm qua, ViệtNamđã có được những cán bộ có khả năng đảm nhận một số nhiệm vụ trong chương trình phát triển ĐHN. Công tác điều tra, thăm dò, khảo sát đã khẳng định ViệtNamlà quốc gia có tài nguyên urani với trữ lượng dự báo 218.000 tấn U3O8. ViệtNamcũng đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi với các nước và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)) trong vấn đề nghiên cứu, phát triển ĐHN.
Nguồn: hanoimoi.com.vn5/7/2006








